- Tranh chấp gì? "G TTTPCMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH | |
TÒA ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH ---***--- ¸n sè: 68/2017/HSST Ngµy 24/11/2017 CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc -------------------------------------- NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã: * ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: Bà Hà Thị Nhung. * C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và Ông Lê Đình Cự * Thư ký Toµ ¸n ghi biªn b¶n phiªn tßa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn §«ng Hưng, tØnh Th¸i B×nh. * §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Đông Hưng, tØnh Th¸i B×nh tham gia phiªn toµ: Bà Phạm Thị Yến - KiÓm s¸t viªn. Trong ngµy 24 th¸ng 11 n¨m 2017 t¹i trô sở Tòa án huyện Đông Hưng; Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn §«ng Hưng, tØnh Th¸i B×nh xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 62/2017/HSST ngµy 13 th¸ng 10 n¨m 2017 ®èi víi bÞ c¸o: Nguyễn Thành G, sinh năm 1993 Tró t¹i:Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Quèc tÞch: ViÖt Nam; D©n téc: Kinh; T«n Gi¸o: kh«ng. V¨n ho¸: 9/12; NghÒ nghiÖp: Lao ®éng tù do Bè đẻ: Không xác định. MÑ ®Î: Nguyễn Thị E, sinh năm 1962. Vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Ngày 01/12/2012 Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt G 03 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 05/11/2014 G chấp hành xong hình phạt tù, ngày 08/11/2012 chấp hành xong án phí BÞ c¸o bÞ tạm giữ, t¹m giam tõ ngµy 28/7/2017 tại nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng được trÝch xuÊt cã mÆt t¹i phiªn toµ. NỘ
I DUNG VỤ ÁN: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 28/7/2017, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với đội cảnh sát hình sự Công an huyện Đông Hưng triệu tập Nguyễn Thành G sinh năm 1993, HKTT: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, chỗ ở: Thôn PT, xã V, Thành phố Q, tỉnh Thái Bình đến cơ quan Công an huyện Đông Hưng để làm việc do nghi ngờ Nguyễn Thành G liên quan đến một vụ trộm cắp trên địa bàn huyện Đông Hưng. Tại Công an huyện Đông Hưng, Công an huyện Đông Hưngã ra quyết định khám người theo thủ tục hành chính đối với G. Quá trình khám xét phát hiện thấy trong túi quần bên trái đang mặc của G có một ví màu nâu, kiểm tra bên trong ví có 2.200.000đ, 01 thẻ công nhân mang tên Nguyễn Thành G do công ty O cấp để trong ngăn to của ví, trong ngăn nhỏ nhất của ví đựng 01 gói được gói bằng hai lớp giấy, lớp bên ngoài là loại giấy màu trắng, lớp bên trong có hai gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, G khai là ma túy, G tàng trữ với mục đích sử dụng. Cơ quan điều tra đã mời người làm chứng đưa G ra UBND thị trấn Đ lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, quản lý niêm phong vật chứng và dẫn giải G về trụ sở Công an huyện Đông Hưng giải quyết. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong ví của G, G khai do nghiện ma túy nên sáng ngày 28/7/2017, G đi bộ từ nhà trọ ra cầu K gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm khoảng 40 tuổi, G không biết tên, địa chỉ, G đưa cho người này 200.000đ nhờ mua hộ hê rô in, người này đồng ý và đi mua ở đâu đó, sau khoảng 5 phút thì quay lại đưa cho G 01 gói chứa hai gói nhỏ, mỗi gói nhỏ được gói bằng hai lớp giấy, lớp ngoài được gói bằng giấy ăn màu trắng, bên trong được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, G cầm ma túy và đi bộ ra nghĩa trang thuộc khu vực cầu K sử dụng bằng hình thức chích 01 gói; còn 01 gói, G cất vào trong ví để ngày hôm sau sử dụng, thì đến 19h cùng ngày bị thu giữ khi cơ quan điều tra khám người theo thủ tục hành chính . Khám xét nơi ở của G cơ quan điều tra thu được 01 sổ hộ khẩu mang tên bà Nguyễn Thị E sinh năm 1962 ở xã T; 01 nắp vỏ chai nhựa màu đỏ có hai lỗ thủng gắn một đoạn ống nhựa màu xanh trắng dài 0,5cm nối với ống thủy tinh hình chữ L G khai là dụng cụ sử dụng ma túy đá cùng 02 tô vít, 01 thanh kim loại là những dụng cụ G nhặt được ở ngoài đường mang về nhà để khi cần thì sử dụng. Bản kết luận giám định số 332/KLGĐ – PC54 ngày 31/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy loại hê rô in có trọng lượng 0,3517gam” (không phảy ba năm một bảy gam) Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 64/KSĐT ngày 12/10/2017 đã truy tố, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành G đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa phân tích nguyên nhân điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 64/KSĐT ngày 12/10/2017; đồng thời đề nghị HĐXX xử bị cáo G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy.” Áp dụng Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/NQ - QH14 ngày 20/6/2017 khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 45; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị tuyên phạt bÞ c¸o Nguyễn Thành G tõ 01(một) năm 06(sáu) tháng - 02(hai) năm và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo G. Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng bằng hình thức tịch thu tiêu hủy 0,3088g hê rô in còn lại sau giám định,01 ống nhựa trắng, 01 ống thủy tinh hình chữ L là dụng cụ để sử dụng ma túy; 01 thẻ công nhân mang tên G, 01 ví giả da, 02 tô vít, 01 cờ lê. Tại phiên tòa bị cáo G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thể như sau. Sáng ngày 28/7/2017, G đi bộ từ nhà trọ ra cầu K gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm khoảng 40 tuổi, G không biết tên, địa chỉ, G đưa cho người này 200.000đ nhờ mua hộ hê rô in, người này đồng ý và đi mua ở đâu đó, sau khoảng 05 phút người này quay lại đưa cho G 01 gói hê rô in được gói bằng hai lớp giấy, lớp ngoài được gói bằng giấy ăn màu trắng, bên trong có hai gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, G cầm ma túy và đi bộ ra nghĩa trang thuộc khu vực cầu K sử dụng bằng hình thức chích 01 gói, còn 01 gói G cất vào trong ví để ngày hôm sau sử dụng thì đến 19h cùng ngày bị cơ quan Điều tra khám người theo thủ tục hành chính phát hiện mời người làm chứng đưa G ra UBND thị trấn Đ lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, quản lý niêm phong vật chứng và dẫn giải G về trụ sở Công an huyện Đông Hưng giải quyết. Bị cáo G xác định cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị. Kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối hận về việc làm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. PHẦN NH
ẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án thì thấy đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với cáo trạng số 64/KSĐT ngày 12/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tangngày 28/7/2017; Kết luận giám định số 332/KLGĐ-PC54 ngày 31/7/2017, lời khai của những người làm chứng cïng toµn bé c¸c chøng cø, tµi liÖu kh¸c cã trong hå s¬. Do vậy có đủ cơ sở kết luận khoảng 19 giờ 35 phút ngày 28/7/2017, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,3517 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng. Hµnh vi cña bÞ c¸o ®· ph¹m vµo téi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo kho¶n 1 §iÒu 194 Bé luËt h×nh sù năm 1999 có khung hình phạt từ hai năm đến bẩy năm tù. XÐt tÝnh chÊt, møc ®é, hËu qu¶ hµnh vi ph¹m téi, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cña bÞ c¸o th× thÊy: Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. T¸c h¹i cña viÖc sử dụng tr¸i phÐp chÊt ma tuý ®èi víi x· héi lµ rÊt nÆng nÒ. Bị cáo đã nhận thức rõ tác hại và sự nguy hiểm nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, là người có nhân thân không tốt, năm 2012 đã 01 lần bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử 03 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thi hành xong bản án vào tháng 05/11/2014, sau khi thi hành xong bản án bị cáo không rèn luyện bản thân mà vẫn tái nghiện, vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, coi thường pháp luật. Vì vậy cần lªn cho bÞ c¸o mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định míi cã t¸c dông gi¸o dôc riêng, phßng ngõa tội phạm chung. Tuy nhiên so sánh giữa quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo kho¶n 1 §iÒu 194 Bé luËt h×nh sù năm 1999 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999. Mặt khác tại Điều 64 Bé luËt h×nh sù năm 1999 và Điều 69 của Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về đương nhiên xóa án thì thời hạn xóa án tích quy định tại khoản 1 Điều 64 của Bộ luật hình sự năm 2015 ngắn hơn thời hạn xóa án tích quy định tại khoản 1 Điều 69 BLHS 1999. Bị cáo được áp dụng những quy định có lợi theo quy định tại Nghị quyết 41/2017/NQ - QH14 ngày 20/6/2017 và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên không phải chịu tình tiết tăng nặng nào do bản án số 56/2012/HSST mà Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử đối với bị cáo đến nay đã được xóa án tích. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. VÒ xử lý vËt chøng: Số ma túy loại Hê rô in thu giữ của G là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. 01 ống nhựa trắng, 01 ống thủy tinh hình chữ L là dụng cụ để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy. 01 đoạn kim loại, 01 thẻ công nhân mang tên Nguyễn Thành G, 01 ví giả da, 02 tô vít, 01 cờ lê là những tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng giá trị tài sản không đáng kể bị cáo không có nhu cầu nhận lại cần tịch thu tiêu hủy. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o Nguyễn Thành G ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn luật định. V× c¸c lÏ trªn: QuyÕt ®Þnh 1.Tuyªn bè: BÞ c¸o Nguyễn Thành G phạm téi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” 2. ¸p dông: Kho¶n 1 §iÒu 194; ĐiÓm p kho¶n 1 §iÒu 46; Khoản 2 Điều 46, §iÒu 33; §iÒu 45 Bé luËt h×nh sù năm 1999, Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/NQ - QH14 ngày 20/6/2017( Nghị quyết Quốc hội 14). Xö ph¹t bÞ c¸o Nguyễn Thành G 02(hai) năm tù, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tÝnh tõ ngµy bÞ bắt tạm giữ, t¹m giam 28/7/2017. 3. VÒ xử lý vËt chøng: ¸p dông §iÒu 76 Bé luËt tè tông h×nh sù, Điều 41 Bộ luật hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 0,3088 (không phảy ba không tám tám) gam Hê rô in; 01 ống nhựa trắng, 01 ống thủy tinh hình chữ L, 01 đoạn kim loại, 01 thẻ công nhân mang tên Nguyễn Thành G, 01 ví giả da, 02 tô vít, 01 cờ lê. Các đồ vật trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 12/10/2017. 4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, §iÒu 23 NghÞ quyÕt 326 ngµy 30/12/2016 cña Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n, buéc bị cáo Nguyễn Thành G ph¶i chÞu 200.000® ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm. ¸n xö c«ng khai s¬ thÈm, cã mÆt bÞ c¸o b¸o cho bÞ c¸o biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính tõ ngµy tuyªn ¸n. T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nơi
nhận: - Bị cáo (ĐÃ KÝ) - Công an huyện Đông Hưng - VKSND huyện Đông Hưng - Chi cục T.HADS huyện Đông Hưng - Lưu Hà Thị Nhung |