vanban.org

Bản án 68/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lưu Văn B K2Đ249 - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2026/HS-ST
Ngày 18 -03- 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Tưởng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Doãn Thị Vệ và bà Nguyễn Thị Kim Luyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2026, đối với bị cáo:

Lưu Văn B, sinh ngày 15/12/1984 tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn QM, xã TĐ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Văn L và bà Hoàng Thị N; Vợ: Đàm Thị Sáu (đã ly hôn) và 02 con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2014);

Tiền án: 02

+ Tại Bản án số 08/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xử phạt Lưu Văn B 06 tháng tù về tội đánh bạc, án phí 200.000đ, hình phạt bổ sung 10.000.000đ. B kháng cáo nên ngày 17/9/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm tại bản án số 552/2019/HSPT tuyên phạt B 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, phạt bổ sung 10.000.000đ, án phí phúc thẩm 200.000đ. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2020, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí sơ thẩm ngày 04/4/2019, xong án phí phúc thẩm ngày 14/01/2020 (chưa được xóa án tích).

+ Tại Bản án số 49/2022/HS-ST ngày 14/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) (ngày phạm tội 19/12/2021) xử phạt: Lưu Văn B 03 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/8/2024, chấp hành xong án phí ngày 07/7/2022 (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 04/02/2021, Lưu Văn B bị Chủ tịch UBND xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc cũ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong ngày 04/05/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2025 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lưu Văn B là người nghiện ma túy heroine từ năm 2008 đến nay. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/10/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên B đi bộ lang thang từ nhà đến phường Xuân Hoà, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Khi đi đến khu vực cổng làng Đức Cung thuộc tổ dân phố Đức Cung, phường Xuân Hoà- tỉnh Phú Thọ thì tìm và mua được 200.000đ ma túy heroin của một người đàn ông tự giới thiệu tên là L1 (B không biết họ, tên địa chỉ cụ thể của L1). Sau khi mua được ma túy B cất giấu trong túi quần phía trước bên phải rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị Công an phường Xuân Hoà, tỉnh Phú Thọ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật chứng vào hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày.

Tang vật thu giữ: Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Lưu Văn B 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu A1. B khai nhận là ma túy heroin mua nhưng chưa kịp sử dụng. Ngoài ra còn thu mẫu nước tiểu của B niêm phong trong 01 chai nhựa để phục vụ công tác điều tra.

Tại Bản kết luận giám định số 3146/KLGĐ – KTHS ngày 06/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định và kết luận:“Chất cục bột màu trắng của mẫu kí hiệu A1 gửi giám định có khối lượng là 0,3245 gam là ma túy, loại Heroine”. Hoàn lại A1 = 0,2686 gam mẫu và Bo gói.

Tại Kết luận giám định số 3145/KL- KTHS ngày 06/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định và kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Lưu Văn B - SN: 1984, HKTT: thôn QM, xã TĐ, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định”. Hoàn lại mẫu: Không.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lưu Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 94/CT-VKS ngày 02/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ truy tố bị cáo Lưu Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 xử phạt Lưu Văn B từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/10/2025. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả còn lại sau giám định là gồm: A1 = 0,2686 gam mẫu cùng toàn bộ Bo gói được niêm phong. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/10/2025, tại khu vực cổng làng thuộc tổ dân phố Đức Cung, phường Xuân Hoà, tỉnh Phú Thọ, Lưu Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,3245 gam ma túy Heroin với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Đối với kết quả xét nghiệm nước tiểu của Lưu Văn B có dương tính với ma túy loại Morphine, tuy nhiên kết quả xác minh xác định B không phải là đối tượng trong diện người cai nghiện ma túy tự nguyện, hoặc là người quản lý sau cai, người nghiện ma túy tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 20/01/2026, Công an phường Xuân Hòa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý B về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật. Bản thân bị cáo trước đó đã hai lần bị kết án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo Lưu Văn B thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,3245 gam ma túy loại heroin của Lưu Văn B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

"1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý …

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

… o) Tái phạm nguy hiểm. "

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 21/3/2019, bị cáo B bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cũ xử phạt 6 tháng tù về tội “Đánh bạc” , do bị cáo kháng cáo nên ngày 17/9/2019, bị cáo B bị Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm xử phạt 6 tháng tù về tội “Đánh bạc” chưa được xoá án tích, ngày 14/4/2022, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xoá án tích, ngày 04/02/2021, bị cáo bị Chủ tịch UBND xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội.

Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.

[4]. Đối với người nam giới bán ma túy cho Lưu Văn B vào ngày 28/10/2025 có tên là L1 theo lời khai của B. Cơ quan điều tra đã xác minh tại tổ dân phố Đức Cung, phường Xuân Hoà tỉnh Phú Thọ nhưng không có đối tượng nào tên là L1 như B đã khai nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…", bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật hoàn trả lại sau giám định là A1 = 0,2686 gam mẫu và toàn bộ Bo gói cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo Lưu Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lưu Văn B 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả còn lại sau giám định là A1 = 0,2686 gam cùng toàn bộ Bo gói.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 02 năm 2026 giữa Công an tỉnh Phú Thọ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Phú Thọ).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Lưu Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

Cỡ chữ