vanban.org

Bản án 68/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 09/02/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8, thành phố Hà Nội về hình phạt. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ“ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2026/HS-PT
Ngày 09/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hồng

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Thu Hường

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký TAND thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 09/02/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 954/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8, thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 06 tháng 05 năm 1990 tại xã Ô, TP Hà Nội; CCCD số 001090015961 do Cục C5 về TTXH cấp ngày 24 tháng 07 năm 2021; Giới tính: Nam; ĐKTT: Cụm H Hồ N, xã Ô, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh: Con ông: Nguyễn Văn T và bà Lê Thị H. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

Vụ án còn có người tham gia tố tụng khác là 01 người bị hại và 01 người đại diện theo pháp luật của bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 02 ngày 20/4/2025, Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 29X3-347.69 (có giấy phép lái xe theo quy định) chở anh Nguyễn Hữu V (sinh năm 1989) và anh Hà Văn H1 (sinh năm 1990) cùng trú tại xã Ô, thành phố Hà Nội đi trên đường Đ theo hướng xã Ô đi xã L. Khi đi đến đoạn đường vòng có biển báo giảm tốc tối đa dưới 40km/h và biển cảnh báo đi chậm thuộc cụm C Hồ N, xã Ô, thành phố Hà Nội nhưng Q không giảm tốc độ, không chú ý quan sát dẫn đến đâm vào cột tiêu bê tông và cột biển báo lề đường bên phải đường đê làm xe mô tô bị đổ ra đường và cả ba ngã ra đường bị thương phải đi viện cấp cứu tại Bệnh viện A3 và Bệnh viện E2. Cùng ngày, do thương tích nặng nên V đã tử vong.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường Km 42+100 thuộc đường Đ thuộc cụm C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội, nay là xã Ô, thành phố Hà Nội. Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông được trải nhựa thẳng phẳng, chia làm hai chiều đường, được chia cắt bởi một vạch sơn kẻ đường đứt quãng màu vàng. Một chiều hướng xã Ô đi xã L, một chiều đường đi hướng ngược lại. Tại ven đường bên phải sát mép đê theo hướng xã Ô đi xã L trồng cọc tiêu bê tông và 01 biển báo hiệu nguy hiểm yêu cầu “đi chậm”, 01 biển báo hiệu tốc độ di chuyển tối đa không vượt quá 40 km/h. Mép đường chuẩn là mép đường bên phải đường H, chiều hướng xã Ô đi xã L. Điểm mốc được xác định là chân cột mốc được chôn ở lề đường bên phải chiều hướng xã Ô đi xã L, ký hiệu là H1/42. Vết (1) là cột tiêu trồng tại lề đường hướng xã Ô đi xã L (là vết cày bung bê tông của cột tiêu). Vết (2) là vết gãy, đổ của cột biển báo giao thông “đi chậm”. Vết (3) là vết mài trượt, bong tróc sơn, bám dính chất màu đen trên thân cột biển bảo “đi chậm”. Vết (4) là vết cày trượt mặt đường. Vết (5) là xe mô tô biển kiểm soát 29X3-347.69. Vết (6) là vết máu loang. Khám nghiệm hiện trường theo hướng xã Ô đi xã L. Vết (1) là vết cày bung bê tông của cột tiêu, có diện (30x30cm). Đo từ tâm vết 1 vào mép đường chuẩn là 40cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 20cm. Đo từ tâm vết 1 về hướng Liên Minh 1,4m là tâm vết 2. Vết 2 có diện (10x10cm). Đo từ tâm vết 2 vào mép đường chuẩn là 45cm, điểm thấp cách mặt đất 20cm. Vết 3 có diện (17x8)cm, đo vuông góc điểm thấp nhất cách đất 80cm. Đo vuông góc điểm thấp nhất của vết 3 vào mép đường chuẩn là 40cm. Đo từ tâm vết 2 đến đầu vết 4 là 7m72. T1 vết 4 là đầu ngoài kim loại bàn đạp chân chống giữa bên trái. Đo từ đầu vết 4 vào mép đường chuẩn là 70cm. Đo từ cuối vết 4 vào mép đường chuẩn là 65cm. Đo từ đầu vết 4 về hướng mép đường chuẩn là 50cm, là trục bánh sau xe mô tô BKS: 29X3-347.69. Xe mô tô này bị đổ về bên trái của xe, đầu xe hướng tim đường, đuôi xe hướng mép đường chuẩn. Đo vuông góc từ trục sau xe mô tô này vào mép đường chuẩn là 40cm. Đo vuông góc từ trục trước xe mô tô này vào mép đường chuẩn là 1,7m. Đo từ đầu vết 4 đến tâm vết 6 là 7m20. Vết 6 có diện (1,6x4,5m). Đo từ tâm vết 6 vào điểm mốc là 2,8m, đo vuông góc vào điểm mốc là 2,6m.

Tại Kết luận giám định tử thi số 2856/KLGĐTT-KTHS ngày 20/5/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận đối với tử thi Nguyễn Văn V1:

“1. Kết quả khám nghiệm bên ngoài: Đầu, mặt: Vùng chảm hai bên, sát chân tóc gáy có vết sây sát da, tụ máu KT(6,5x4,2)cm. Vùng chán phải, dưới chân tóc trán 2,5cm, xuống đến vùng phía trên mắt trái, có vết sây sát da KT (7,8x9) cm. Vùng sống mũi bên phải xuống đến vùng chóp mũi có các vết sây sát da, tụ máu KT (2,8x,29) cm. Niêm mạc môi trên và môi dưới dập, tụ máu. Cổ: Vùng cổ không có dấu vết thương tích. Ngực bụng: Khung xương lồng ngực cân đối. Không có dấu vết thương tích. Lưng, mông: Không có dấu vết thương tích. Hai tay: Vùng mặt sau cổ tay phải xuống đến vùng mu bàn tay có các vết sây sát da KT (10x1,5) cm. Vùng 1/3 mặt trong cánh tay trái có các vết sây sát da, tụ máu, KT (10x7) cm. Mắt cá ngoài chân trái sây sát da KT (1,1x0,6) cm. Xương khớp hai chân không tổn thương. Bộ phận sinh dục, hậu môn: Không có dấu vết thương tích.

2. Kết quả khám trong: Đầu: Tổ chức dưới da đầu tương ứng với các vết thương bên ngoài tụ máu, ngấm máu. Xương chẩm bên phải bị vỡ KT (5,6x3) cm. Xương vùng hố sọ giữa và hố sọ sau bị rạn, vỡ thành nhiều đường. Chảy máu não lan tỏa hai bán cầu. Gia đình nạn nhân từ chối pháp y vùng ngực, bụng.

3. Kết quả xét nghiệm, giám định khác:

- Kết luận giám định hóa pháp số 959/PV-XNĐH ngày 16/5/2025 của V2 kết luận: Trong mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Hữu V tìm thấy E, nồng độ cồn 225,8mg/100ml máu. Trong mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Hữu V không tìm thấy các chất ma túy: Morphin, 6MAM, Heroin, C, C1, A, M, MDA, MDMA, MDEA, Ketamin, LSD, THC (cần sa). Trong mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Hữu V không tìm thấy các chất độc: Hóa chất bảo vệ thực vật: nhóm Clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ, nhóm P, nhóm carbamat, thuốc trừ nấm khuẩn, nhóm diệt cỏ, nhóm sinh học (A), nhóm khác (M, B, A1, B1, D, F, C2, C3, N); Hóa chất diệt chuột; Thuốc gây ngủ, an thần kinh: nhóm B2, nhóm B3, nhóm khác (M1, C4, E1, P1, P2, R, A2, T2); các alcaloid độc; chất độc bay hơi (C).

4. Kết luận giám định mô bệnh học số 215/25/KLMBH-PY ngày 07/5/2025 của V2 kết luận: Hình ảnh: Dập não, xuất huyết trong nhu mô não và khoang dưới nhện.

5. Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng. Thương tích trên cơ thể nạn nhân do va chạm với vật tày gây nên”.

Tại bản kết luận giám định số 4674/KTHS ngày 05/9/2025 của V3 đã kết luận cơ chế hình thành dấu vết va chạm của xe mô tô 29X3-347.69:

“- Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng ở mặt ngoài đầu tay lái bên trái, bên trái lốc máy, đầu ốc trục bên trái bánh sau xe mô tô 29X3-357.69 (ảnh 4, 5, 6 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với bề mặt cứng, nhám (bê tông,…).

- Dấu vết trượt xước, bám dính chết màu trắng ở mặt ngoài phía dưới giảm xóc trước bên phải, phía dưới ốp vai càng bên phải, phía dưới yếm chắn gió bên phải xe mô tô biển số 29X3-347.69 (ảnh 8, 9 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với bề mặt cứng, nhám (bê tông,…)

- Các dấu vết khác ở xe mô tô biển số 29X3-347.69 được ghi nhận trong “Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông” của Công an Thành phố H hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.

- Không xác định được tốc độ của xe mô tô 29X3-347.69 khi va chạm”. (Bút lục số 24).

Tại Tóm tắt hồ sơ bệnh án của Nguyễn Văn Q tại Bệnh viện E2:

“Ngày vào viện 20/4/2025, ngày ra viện ngày 26/4/2025, chuẩn đoán lúc ra viện: S91.7-Đa vết thương hở ở cẳng chân và bàn chân; T06- Tổn thương khác tác động nhiều vùng cơ thể, không xếp loại nơi khác; T13.1- Vết thương hở chi dưới, tầm chưa xác định... Xét nghiệm máu: Định lượng Ethanol: 192mg/dl, Creatime: 108 mmol/l, SGOT/SGPT: 103/132U/L”. (Bút lục số 110).

Tại Biên bản xác minh thương tích của anh Hà Văn H1 tại Bệnh viện A3:

“Bệnh nhân vào viện tỉnh, tiếp xúc được, xây sát da mặt gối trước phải, hạn chế vận động gối phải, sưng nề. X- quang có hình ảnh gãy mâm chè gối ngoài phải, cộng gãy đầu trên xương mác phải”

Ngày 16/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với anh Hà Văn H1 nhưng anh H1 từ chối giám định thương tích nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Về dân sự: Ngày 29/10/2025 bị cáo đã tự nguyên bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Hữu V 200.000.000đ và bồi thường cho anh Hà Văn H1 số tiền 20.000.000đ; gia đình anh Nguyễn Hữu V, anh Hà Văn H1 không đề nghị gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn Q.

Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) chiếc áo phông ba lỗ màu đen của Nguyễn Văn Q; 01 (một) Giấy phép lái xe số AM 138353 mang tên Nguyễn Văn Q; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 021055, tên chủ xe là Nguyễn Văn Q và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 29X3- 347.69, số máy G3D4E494826, số khung 0610HY473314, đã qua sử dụng chuyển đến Phòng thi hành án khu vực 8, Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội để giải quyết trong giai đoạn xét xử theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 30 tháng 09 năm 2025, Viện kiểm sát Khu vực 8 - Hà Nội truy tố Nguyễn Văn Q “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2025/HSST ngày 10/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8, Thành phố Hà Nội quyết định:

Tuyên bố: Nguyễn Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ“.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc áo phông ba lỗ màu đen (trước ngực có chữ THE MAX màu trắng).

- Trả cho Nguyễn Văn Q 01 (một) Giấy phép lái xe số AM 138353 mang tên Nguyễn Văn Q; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 021055, tên chủ xe là Nguyễn Văn Q và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 29X3- 347.69, số máy G3D4E494826, số khung 0610HY473314, đã qua sử dụng và bị hư hỏng (xe bị vỡ yếm thân xe bên phải)

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2025 giữa Công an T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8, TP Hà Nội)

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/11/2025 bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hà Nội, đề nghị sửa án sơ thẩm với lý do án sơ thẩm tuyên hình phạt tù quá nặng. Bị cáo thừa nhận có tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo thừa nhận có hành vi phạm tội, vi phạm quy định giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng theo nội dung án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị hại và gia đình bị cáo có mối quan hệ thân thiết nhiều năm, bị hại cũng là bạn học thân thiết của bị cáo, đến nay bị cáo thường xuyên đi lại thăm hỏi gia đình bị hại và được gia đình bị hại coi bị cáo như con đẻ. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Bị cáo Nguyễn Văn Q nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận hành vi điều khiển xe khi có nồng độ cồn, vi phạm quy định giao thông đường bộ. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường số tiền thiệt hại cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và là lao động chính trong gia đình, có cha mẹ già, có khả năng tự cải tạo. Trong vụ án này, cả bị cáo và bị hại đều vi phạm về việc chấp hành an toàn giao thông đường bộ khi tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm xe máy, dẫn đến hậu quả tử vong cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 20/4/2025, Nguyễn Văn Q (có giấy phép lái xe theo quy định, có sử dụng rượu bia với nồng độ cồn 192mg/dl) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Eciter, màu đen, biển kiểm soát 29X2- 347.69 chở anh Nguyễn Hữu V, anh Hà Văn H1 đi trên đường Đ theo hướng xã Ô đi xã L. Khi đến đoạn đường vòng có biển báo giảm tốc tối đa dưới 40km/h và biển cảnh báo đi chậm thuộc địa phận Km 42 +100 tại cụm C Hồ N, xã Ô, thành phố Hà Nội nhưng Q không giảm tốc độ, không chú ý quan sát nên đâm vào cột tiêu bê tông và cột biển báo lề đường bên phải dẫn đến anh V bị tử vong, anh H1 bị thương tích vỡ xương mâm chè chân bên phải. Hành vi của Nguyễn Văn Q đã vi phạm điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp:… b,Có biển hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường,…. d, N1 đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường vòng...” và Q điều khiển xe khi có nồng đồ cồn dẫn đến gây tai nạn chết người.

Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi xem xét đến nguyên nhân và điều kiện xảy ra vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Vụ án xẩy ra khi bị cáo cùng các bạn đi liên hoan họp lớp, tất cả cùng sử dụng rượu bia, khi trở về cả bị cáo và bị hại đều vi phạm về chấp hành an toàn giao thông đường bộ không đội mũ xe máy khi tham gia giao thông. Như vậy, trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ. Sau khi xẩy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại và gia đình bị cáo có mối quan hệ thân thiết, coi bị cáo như con đẻ và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trước lần phạm tội này bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình có cha mẹ già yếu. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, xử cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục là vẫn đảm bảo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8, thành phố Hà Nội về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ“

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:

Nguyễn Văn Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Ô, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của .

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ