vanban.org

Bản án 68/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Lò Thị D đối với anh Lò Văn T.

Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn T. Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thị Thu Th, sinh ngày 18/7/2002 và cháu Lò Văn S, sinh ngày 20/02/2004. Cháu Lò Thị Thu Th và cháu Lò Văn S đã đến tuổi trưởng thành, không bệnh tật, có khả năng lao động, không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn T."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Lò Thị D đối với anh Lò Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 31-3-2026
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Quốc, ông Hoàng Trung Trọng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu Hà- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2026/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Bản P, xã M, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Bản P, xã M, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã MG, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2025 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2025 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị Lò Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn T.

Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thị Thu Th, sinh ngày 18/7/2002 và cháu Lò Văn S, sinh ngày 20/02/2004.

Cháu Lò Thị Thu Th và cháu Lò Văn S đã đến tuổi trưởng thành, không bệnh tật, có khả năng lao động. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị D cam đoan không có nợ chung.

Trong biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Lò Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh Lò Văn T và chị Lò Thị D kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã MG, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2023 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Diêu có quan hệ bất chính với người khác dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, anh nhất trí ly hôn với chị Lò Thị D.

Về con chung: Anh Lò Văn T và chị Lò Thị D có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thị Thu Th, sinh ngày 18/7/2002 và cháu Lò Văn S, sinh ngày 20/02/2004.

Cháu Lò Thị Thu Th và cháu Lò Văn S đã đến tuổi trưởng thành, không bệnh tật, có khả năng lao động. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Lò Văn T cam đoan không có nợ chung.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Lò Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Diêu giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Lò Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Tâm giữ nguyên yêu cầu ý kiến trong bản tự khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn T.

Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thị Thu Th, sinh ngày 18/7/2002 và cháu Lò Văn S, sinh ngày 20/02/2004. Cháu Lò Thị Thu Th và cháu Lò Văn S đã đến tuổi trưởng thành, không bệnh tật, có khả năng lao động. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn T cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lò Thị D yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văn T có địa chỉ tại Bản P, xã M, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục hoà giải: Bị đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị D, bị đơn anh Lò Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã MG, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2023, 2025 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T đã sống ly thân, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Diêu cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văn T, anh Lò Văn T nhất trí ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Diêu và anh Tâm lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn T. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thị Thu Th, sinh ngày 18/7/2002 và cháu Lò Văn S, sinh ngày 20/02/2004. Cháu Lò Thị Thu Th và cháu Lò Văn S đã đến tuổi trưởng thành, không bệnh tật, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn T cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Lò Thị D đối với anh Lò Văn T.

Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn T.

2. Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thị Thu Th, sinh ngày 18/7/2002 và cháu Lò Văn S, sinh ngày 20/02/2004. Cháu Lò Thị Thu Th và cháu Lò Văn S đã đến tuổi trưởng thành, không bệnh tật, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản riêng: Không có.

5. Về nợ chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn T cam đoan không có nợ chung.

6. Về án phí: Chị Lò Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000249, ngày 04 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ