vanban.org

Bản án 68/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M đối với bà Lê Thị H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, ghi nhận ông M không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Văn M - Lê Thị H vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M đối với bà Lê Thị H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2026/DS-ST
Ngày: 12 – 02 – 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hoàng Vinh;

Bà Lê Thị Thuý Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trần Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 717/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số A, tổ A, ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh, số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 01/5/2021.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Văn S, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố G, phường T, tỉnh Tây Ninh (theo hợp đồng uỷ quyền ngày 06/10/2025), có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: số A, tổ A, ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Võ Văn S trình bày:

Do hàng xóm với nhau nên ông M quen biết với bà H. Vào đầu năm 2021, bà H nhờ ông M giúp đỡ cho mượn một số tiền để bà H lo cho con đi du học. Vào đầu tháng 3/2021, bà H mượn ông M số tiền 100.000.000 đồng, do không có tiền nên ông M đi mượn của người khác với mức lãi suất là 3%/tháng. Khi đưa tiền cho bà H vào đầu tháng 3/2021, sau đó bà H có đóng tiền lãi được 03 tháng từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2021 thì ngưng đóng, ông M yêu cầu bà H viết giấy nợ thì bà H đã viết cho ông M giấy nợ đề ngày 03/6/2021, theo đó bà H mượn của ông M số tiền 100.000.000 đồng, không ghi lãi suất, thời hạn mượn là 03 tháng tính từ ngày ghi giấy là 03/6/2021. Kể từ khi ghi giấy mượn tiền cho đến nay thì bà H cũng không thực hiện nghĩa vụ đóng lãi theo thỏa thuận. Ông M đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H luôn tìm mọi lý do để tránh né việc trả tiền cho ông M. Bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay, việc này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M.

Trong đơn khởi kiện ông M yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh giải quyết buộc bà Lê Thị H trả cho ông M số tiền là: 143.330.000 (Một trăm bốn mươi ba triệu ba trăm ba mươi nghìn) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 03/10/2025 là 43.330.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn M có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu tính lãi suất.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả cho ông M số tiền nợ gốc là 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn, bà Lê Thị H: Bà H đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đến Tòa để giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng, ghi nhận ông M không yêu cầu tính lãi.

Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Võ Văn S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Lê Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông S, bà H.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn M khởi kiện đối với bà Lê Thị H yêu cầu trả số tiền là 100.000.000 đồng. Bà H cư trú tại số A, tổ A, ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M:

Ông M yêu cầu bà H trả số tiền 100.000.000 đồng, cung cấp chứng cứ chứng minh là giấy mượn tiền ngày 03/6/2021. Ông M xác định giấy mượn tiền ngày 03/6/2021 do bà H viết, ký họ tên và đưa cho ông Mai G (bút lục số 29), nội dung giấy mượn tiền ghi: “Tôi có mượng chú M 100.000.000đ ….”.

Bị đơn bà Lê Thị H đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ và bản tự khai trình bày ý kiến của bà H đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, tuy nhiên bà H không thực hiện, không phản hồi ý kiến của bà H đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, vì vậy xem như bà H đã từ bỏ quyền lợi ích hợp pháp của mình.

Xét thấy, nội dung giấy mượn tiền thể hiện bà H có vay tiền của ông M số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 03/6/2021, thời hạn 03 tháng, đến nay bà H vẫn không trả cho ông M số tiền đã vay là vi phạm thoả thuận giữa hai bên ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M, nên ông M yêu cầu bà H trả số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Ông M không phải chịu tiền án phí.

Do yêu cầu khởi kiện của ông M được chấp nhận, theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; các Điều 26, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M đối với bà Lê Thị H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, ghi nhận ông M không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị H phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trần Văn M không phải chịu tiền án phí, hoàn trả lại cho ông M số tiền tạm ứng án phí 3.583.250 (ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn hai trăm năm mươi) đồng (do ông Võ Văn S nộp thay) theo biên lai thu số: 0007517 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ