vanban.org

Bản án 68/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo R phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo R 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 01/8/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo R phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST.
Ngày 28/11/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Huệ.

2. Ông Trương Văn Luân.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Chu Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025; Tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 12/11/2025; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 18/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: R, sinh ngày 23/6/1962, tại tỉnh Hưng Yên (tỉnh Thái Bình cũ). Nơi cư trú: thôn D, xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Con ông Khiếu Văn Đ, đã chết. Năm 1997 ông Đ được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, con bà Vũ Thị T, đã chết; Vợ Vũ Thị S, sinh năm 1964; có hai con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1990. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 07/12/2006, Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính 500.000 đồng hành vi “Đánh bạc”. Ngày 26/7/2007 bị Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 42 tháng về tội “Đánh bạc”. Ngày 09/3/2011, Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính 2.000.000 đồng hành vi “Đánh bạc”. Ngày 16/8/2013 bị Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 28/3/2018 bị Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 03/6/2021, Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. (đều đã được xóa án tích). Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Hưng Yên. Trích xuất có mặt.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Vũ Thị S, sinh năm 1964. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn D, xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên.

+ Những người chứng kiến:

- Ông Phạm Văn X, sinh năm 1974. Vắng mặt.

- Ông Mai Xuân T, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Đều nơi cư trú: thôn Sài, xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 05 phút ngày 01/8/2025, tại đường thôn Sài, xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên; tổ công tác của Công an xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang R, có hành vi cất giấu tại túi quần bên phải, phía trước đang mặc 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài, chứa chất dạng bột màu trắng là ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,3507 gam. Quân khai nhận túi ma túy trên Quân mua của một người đàn ông (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực ngã tư Vũ Hạ, thôn Vũ Hạ, xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong túi ma tuý trên trước sự chứng kiến của ông Phạm Văn X và ông Mai Xuân T. Ngoài ra, tổ công tác còn quản lý của Quân 01 xe mô tô nhãn hiệu Symex50, số loại Ex50, màu đỏ bạc, biển số 14AK-006.08. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của R, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên không quản lý, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 711/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,3507 gam.

Bản Cáo trạng số 12/CT-VKSKV8, ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên đã truy tố R về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, R khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 01/8/2025, Quân một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Symex50, số loại Ex50, màu đỏ bạc, biển số 14AK-006.08 đi từ nhà đến xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy sử dụng. Tại đây Quân đã gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, sau đó Quân cho gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc và điều khiển xe máy đi về, khi đi đến đường thôn Sài, xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang tàng trữ ma túy.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định.

Bị cáo R đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Phạm Văn X, ông Mai Xuân T và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên lập hồi 09 giờ 30 phút, 11 giờ 05 phút, 11 giờ 10 phút ngày 01/8/2025 tại trụ sở Công an xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên; Bản kết luận giám định số 711/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 09 giờ 05 phút, ngày 01/8/2025, tại đường thôn Sài, xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên; bị cáo R đã có hành vi tàng trữ trái phép 0, 3507 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

... c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ....

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe và làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước cũng đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, ... trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ bị cáo khai mua của 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ, tại khu vực khu vực ngã tư Vũ Hạ, thôn Vũ Hạ, xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo nên không đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy cơ quan điều tra quản lý của bị cáo sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 711/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Symex50, màu sơn đỏ bạc, biển số 14AK-006.08; quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Vũ Thị S, sinh năm 1964, cư trú tại thôn D, xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên, ngày 08/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã trả lại cho chị S chiếc xe trên là đúng theo quy định nên chấp nhận.

Về án phí bị cáo là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo R phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo R 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 01/8/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của R được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 711/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên.

(Vật chứng trên hiện đang do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hưng Yên quản lý, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2025).

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo R được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo R và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2025. Nơi nhận:

Cỡ chữ