- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L xin ly hôn Trần Viết Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Trần Viết Đ.
- Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/4/2025 "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Năng
- Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Thái Linh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 257/2024/ TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 54/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Thôn V, xã V, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Bị đơn: Anh Trần Viết Đ, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện anh Đ đang lao động tại Romania; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Viết Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 20/01/2014 tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, cuộc sống hạnh phúc, vợ chồng yêu thương nhau. Đến năm 2015 anh Đ sang Đài Loan lao động, cuối năm 2016 chị cũng sang Đài Loan lao động nhưng hai vợ chồng ở hai nơi, không có thời gian gần gũi quan tâm nhau. Năm 2021 anh Đ về Việt Nam sinh sống, còn chị vẫn ở lại Đài Loan làm việc. Thời điểm này vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ ở nhà thường chơi bời, cờ bạc dẫn đến gia đình nợ nần. Chị và gia đình đã khuyên can, hoà giải nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi bản tính. Đến tháng 7/2024, chị được biết anh Đ sang Romania lao động. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Viết Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Trần Viết Bảo A, sinh ngày 01/5/2014. Chị có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung và không yêu cầu anh Trần Viết Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tiến hành thụ lý giải quyết vụ án mà không thực hiện thủ tục hòa giải tiền tố tụng cũng như hòa giải trong quá trình giải quyết. Chị Nguyễn Thị L trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Trần Viết Đ tại Romania mà chỉ biết anh thường gọi điện về cho mẹ đẻ anh là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967, trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Chị đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh Trần Viết Đ qua mẹ anh. Bị đơn anh Trần Viết Đ hiện đang làm việc tại Romania. Toà án đã tiến hành xác minh tại mẹ đẻ anh là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967, trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, bà H cho biết anh Trần Viết Đ là con trai bà, hiện đang lao động tại Romania, anh Đ đi từ tháng 7/2024 đến nay chưa về nước lần nào. Anh Đ thường xuyên liên lạc với bà qua mạng xã hội nhưng không nói rõ địa chỉ nên bà không biết để cung cấp theo yêu cầu của Toà án. Anh Đ kết hôn với chị Nguyễn Thị L năm 2014, có 01 con chung là Trần Viết Bảo A, sinh ngày 01/5/2014, năm 2015 anh Đ đi lao động tại Đài Loan, năm 2016 chị L cũng sang Đài Loan làm việc, đến năm 2021 Đ về Việt Nam, còn L vẫn ở Đài Loan. Đến tháng 7/2024, Đ đi lao động tại Romania cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, cụ thể bà không nắm được. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án về việc chị Nguyễn Thị L làm thủ tục ly hôn với Đ, bà đã thông báo lại cho Đ, Đ nói vợ chồng không còn tình cảm nên chị L xin ly hôn, Đ đồng ý. Về con chung, Đ đồng ý giao con chung Trần Viết Bảo A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: không có. Do công việc nên Đ không thể liên lạc về để gặp cán bộ Toà án trình bày quan điểm. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Toà án và thông báo lại cho Đ. Cháu Trần Viết Bảo A, sinh ngày 01/5/2014 có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở cùng mẹ Nguyễn Thị L sau khi bố mẹ ly hôn. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, các đương sự; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 39, 227, 228, 469, Điều 474, Điều 477, Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Về tình cảm: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Trần Viết Đ.
- Về con chung: Giao con chung Trần Viết Bảo A, sinh ngày 01/5/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Viết Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị L (trú tại: Thôn V, xã V, huyện K, tỉnh Hà Tĩnhh) khởi kiện xin ly hôn anh Trần Viết Đ, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện anh Đ đang lao động tại Romania. Theo công văn số 06/QLXNC- Đ1 ngày 03/01/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H thì anh Trần Viết Đ đã xuất cảnh ngày 02/7/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn anh Trần Viết Đ hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho thân nhân anh Trần Viết Đ. Đồng thời, tiến hành xác minh địa chỉ cụ thể và lấy ý kiến của anh Trần Viết Đ đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L nhưng anh Đ không có ý kiến hay bất kỳ văn bản tài liệu nào gửi về Tòa án tỉnh Hà Tĩnh. Tòa án yêu cầu nhân thân của anh Đ cung cấp địa chỉ, tin tức để Tòa án giải quyết vụ án nhưng gia đình không cung cấp được địa chị cụ thể của anh Đ. Tòa án đã thông báo về việc giải quyết vụ án cho anh Đ trên kênh đối ngoại VOV5 Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp từ ngày 24, 25, 26/02/2025 nhưng không có hồi âm của bị đơn. Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã mở phiên tòa ấn định thời gian xét xử lần 1 vào ngày 09/4/2025, lần 2 vào ngày 24/4/2025 tống đạt, niêm yết hợp lệ nhưng anh Đ vẫn vắng mặt và không có bất kỳ văn bản ý kiến nào gửi Tòa án. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3] Chị Nguyễn Thị L vì lý do ở xa và bận công việc nên không thể đến tham gia phiên tòa và có đơn xin được xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị L, anh Đ theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Viết Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh Đ là hợp pháp. Theo lời khai của chị L, vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng ở xa nhau, ít có thời gian gần gũi quan tâm nhau và do anh Đ chơi bời, bài bạc dẫn đến nợ nần, chị và gia đình đã khuyên giải nhiều nhưng anh Đ không thay đổi. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ. Hội đồng xét xử xét thấy: Hai vợ chồng không quan tâm đến nhau, tình cảm không còn, hiện mỗi người sống một nơi không có khả năng đoàn tụ. Chị L và anh Đ không thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, mâu thuẫn căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Viết Đ có 01 con chung là Trần Viết Bảo A, sinh ngày 01/5/2014. Chị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Đ hiện nay đi làm xa nhà, chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, cháu Trần Viết Bảo A có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ sau khi ly hôn. Vì vậy Hội đồng xét xử giao con chung Trần Viết Bảo A cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu, miễn xét. Anh Trần Viết Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết, miễn xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 39, 227, 228, 469, Điều 474, Điều 477, Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Trần Viết Đ.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Viết Bảo A, sinh ngày 01/5/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con. Anh Trần Viết Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000235 ngày 27/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - UBND thị trấn C, huyện C, Hà Tĩnh (Nơi ĐKKH); - Lưu HSVA, VP, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Năng |