- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "giả tạo"
- Tòa quyết gì? 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
| TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:68/2025/DS-ST Ngày: 24/6/2025. V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển Vay tài sản; hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thẩm phán
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Văn Bé Em
2. Ông Trần Đăng Khoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành
phố Rạch Giá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Trường
hợp không tham gia.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2025/TLST- DS ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng mua bán tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Trần Tấn Quang, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: số 253C khu phố Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá,
Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Quang: bà Nguyễn Thị Kim Soàn, sinh
năm: 1987.
Địa chỉ: Lô A11-35 khu đô thị MLB Tây Bắc, phường Vĩnh Thanh, thành phố
Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 09/4/2025.
*Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Vàng, sinh năm: 1967
Bà Nguyễn Thị Liệt, sinh năm: 1970
Địa chỉ: số 363 Trần Khánh Dư, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên
Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng công chứng Rạch Giá
Địa chỉ: 42 Lạc Hồng, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
(Bà Soàn, bà Liệt có mặt tại phiên tòa,
Văn phòng công chứng Rạch Giá có đơn xin vắng mặt; ông Vàng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Trần Tấn Quang trình bày:
Nguyên vào ngày 11/02/2022 vợ chồng ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị
Liệt cần vốn kinh doanh nên có đến gặp ông hỏi vay số tiền 300.000.000 đồng, xin đóng lãi hàng tháng, mỗi tháng 4,5%, thời gian vay 12 tháng và chuyển nhượng tàu cá biển đăng ký KG -95601-TS cho ông để làm tin đến hạn trả nợ mà không trả tiền thì ông có quyền chuyển nhượng tàu cá theo đúng hợp đồng chuyển nhượng tàu cá ngày 11/02/2022 sang tên ông và lấy tàu cá để sử dụng, nên ông đã đồng ý giao số tiền trên cho ông Vàng bà Liệt vay.
Sau khi vay tiền ông Vàng bà Liệt không đóng lãi, ông đã đòi nhiều lần nhưng
ông Vàng bà Liệt chỉ hứa. Tàu cá thì ông Vàng bà Liệt vẫn sử dụng cũng không có giao cho ông.
Do vậy, ông yêu cầu ông Vàng bà Liệt trả số tiền nợ vay vốn gốc 300.000.000
đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 11/02/2022 cho đến khi trả dứt nợ; Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tàu cá mang biển kiểm soát KG-95601-TS được ký kết giữa ông Trần Tấn Quang với bà Nguyễn Thị Liệt ông Nguyễn Văn Vàng. Ông tự nguyện giao trả lại 01 giấy chứng nhận đăng ký tàu cá (bản chính), 01 giấy phép khai thác thủy sản (bản chính), 01 Biên bản kiểm tra kỹ thuật (bản chính).
- Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim Soàn có yêu cầu:
Yêu cầu ông Vàng bà Liệt trả số tiền nợ vay vốn gốc 300.000.000 đồng và tiền
lãi theo quy định pháp luật, chỉ yêu cầu lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 11/02/2022 cho đến khi trả dứt nợ; Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tàu cá mang biển kiểm soát KG-95601-TS được ký kết giữa ông Trần Tấn Quang với bà Nguyễn Thị Liệt ông Nguyễn Văn Vàng. Ông Quang tự nguyện giao trả ông Vàng bà Liệt 01 giấy chứng nhận đăng ký tàu cá (bản chính), 01 giấy phép khai thác thủy sản (bản chính), 01 Biên bản kiểm tra kỹ thuật (bản chính).
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Liệt có ý kiến tại phiên hòa giải: Ngày 11/02/2022 vợ chồng bà thống nhất vay của ông Trần Tấn Quang số tiền 300.000.000 đồng, có làm hợp đồng vay tài sản, hai bên thỏa thuận tiền lãi 4,5%/tháng, không thỏa thuận thời hạn vay. Sau khi vay do hoàn cảnh khó khăn nên bà không có tiền trả ông Quang như thỏa thuận. Nay bà chấp nhận trả số tiền 300.000.000 đồng và xin giảm tiền lãi, xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Liệt có ý kiến:
Thực chất vợ chồng bà vay tiền của ông Quang có lập giấy vay tiền và lập Hợp
đồng mua bán tàu cá để thế chấp bảo đảm. Do sau đó vợ chồng bà không trả tiền đúng hạn cam kết nên nay còn nợ ông Quang số tiền 300.000.000 đồng và chấp nhận trả tiền lãi theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng. Bà đồng ý hủy bỏ Hợp đồng mua bán tàu cá ngày 11/02/2022.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Rạch Giá trình
bày:
Văn phòng công chứng Rạch Giá có thực hiện công chứng Hợp đồng mua bán
tàu cá ngày 11/02/2022 giữa ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt với bên mua ông Trần Tấn Quang, số công chứng 00714 quyển số 01/2022/CC-SCC/HĐGD, tài sản mua bán là tàu cá số đăng ký KG-95601-TS theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 1211/2017. Hợp đồng đã thực hiện công chứng đúng trình tự, thủ tục theo quy định, các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình và hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng.
Tại phiên tòa Văn phòng công chứng Rạch Giá có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án; Bị đơn cư trú tại thành phố Rạch Giá nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá theo các Điều 26; Điều 35; Điều 36 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định
hoãn phiên tòa cho ông Nguyễn Văn Vàng nhưng ông Vàng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng không vì trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt ông Vàng.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn ông Trần Tấn Quang với bị đơn ông Nguyễn
Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Xét yêu cầu của ông Trần Tấn Quang đối với số tiền 300.000.000 đồng và hủy
hợp đồng mua bán tàu cá thì thấy rằng:
Ông Quang và bà Liệt ông Vàng thực hiện giao dịch vay tài sản, số tiền giao dịch
300.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 11/02/2022, có chữ ký “Nguyễn Văn Vàng” bên vay tiền. Điều này đã được bà Nguyễn Thị Liệt thừa nhận tại tòa. Cùng ngày, hai bên lập Hợp đồng mua bán tàu cá đối với tàu cá số đăng ký KG-95601-TS theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 1211/2017, được công chứng tại Văn phòng công chứng Rạch Giá nhưng thực chất đây là giao dịch giả tạo nhằm bảo đảm việc vay tiền, tàu cá bà Liệt ông Vàng vẫn sử dụng từ đó đến nay, ông Quang chỉ giữa các giấy tờ liên quan đến tàu cá để làm tin. Nội dung này được nguyên đơn ông Quang và bị đơn bà Liệt thừa nhận. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận Hợp đồng mua bán tàu cá giữa bên bán là bà Nguyễn Thị Liệt ông Nguyễn Văn Vàng với bên mua là ông Trương Tấn Quang được công chứng tại Văn phòng công chứng Rạch Giá ngày 11/02/2022 là giả tạo nên cần áp dụng Điều 124, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo. Về giải quyết hậu quả hợp đồng, do hai bên chỉ tiến hành giao nhận các giấy tờ liên quan đến tàu cá, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện giao trả ông Vàng bà Liệt 01 giấy chứng nhận đăng ký tàu cá (bản chính), 01 giấy phép khai thác thủy sản (bản chính), 01 Biên bản kiểm tra kỹ thuật (bản chính) nên Hội đồng xét xử thống nhất ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Đối với số nợ vay theo Hợp đồng vay tiền ngày 11/02/2022 chưa được ông Vàng
thừa nhận, nhưng được bà Liệt thừa nhận và xin cam kết trả nợ dần. Căn cứ vào việc giao kết hợp đồng mua bán tàu cá có sự tham gia của ông Vàng, phù hợp với Hợp đồng vay tiền có chữ ký ông Vàng bên vay nên có cơ sở xác định ông Vàng bà Liệt vay số tiền 300.000.000 đồng của ông Quang và đến nay chưa trả. Do vậy, căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: xét thấy, hai bên thống nhất lãi suất
thỏa thuận 4,5%/tháng, nhưng ông Vàng bà Liệt chưa đóng lãi, nay nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng phù hợp theo Điều 468 Bộ luật dân sự nên có cơ sở chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: 300.000.000 đồng x 40 tháng 12 ngày (ngày 11/2/2022 đến ngày 24/6/2025) x 1%/tháng = 123.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt có trách nhiệm trả ông Trần Tấn Quang số tiền 423.000.000 đồng.
Về yêu cầu trả nợ dần của bà Nguyễn Thị Liệt không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
Ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt phải nộp án phí trên số tiền phải trả
là: 20.000.000 đồng + 23.000.000 đồng x 4% = 20.920.000 đồng.
Ông Trần Tấn Quang tự nguyện nộp án phí trên yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp
đồng mua bán tàu cá là 300.000 đồng. Khấu trừ tạm ứng án phí ông Quang đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014450 ngày 15/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
Ông Trần Tấn Quang được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí còn lại là 10.400.000
đồng theo biên lai thu số 0008154 ngày 20/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 36, Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều
266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều Điều 122, 124, 131, 132, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án.
Tuyên xử:
-Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Tấn Quang đối với bị đơn
ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt.
Tuyên bố Hợp đồng mua bán tàu cá giữa bên bán ông Nguyễn Văn Vàng bà
Nguyễn Thị Liệt với bên mua ông Trần Tấn Quang, ký công chứng tại Văn phòng công chứng Rạch Giá ngày 11/02/2022 vô hiệu do giả tạo.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Tấn Quang hoàn trả ông Nguyễn Văn Vàng
bà Nguyễn Thị Liệt gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký tàu cá (bản chính), 01 giấy phép khai thác thủy sản (bản chính), 01 Biên bản kiểm tra kỹ thuật (bản chính).
Buộc ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt phải trả ông Trần Tấn Quang
số tiền nợ vay vốn gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 11/2/2022 đến ngày 24/6/2024 là 123.000.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 423.000.000 đồng.
Kể từ ngày 25/6/2025 (tiếp theo ngày Tòa tuyên án) nếu bị đơn chậm thực hiện
trả nợ thì còn phải chịu mức tiền lãi chậm trả quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi trả dứt số nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Vàng bà Nguyễn Thị Liệt phải nộp án phí trên số tiền phải trả
là 20.920.000 đồng.
Ông Trần Tấn Quang tự nguyện nộp án phí trên yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp
đồng mua bán tàu cá là 300.000 đồng. Khấu trừ tạm ứng án phí ông Quang đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014450 ngày 15/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
Ông Trần Tấn Quang được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí còn lại là 10.400.000
đồng theo biên lai thu số 0008154 ngày 20/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
* Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa được biết quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24-6-2025). Riêng đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày Tòa án tống đạt Bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá; - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ vụ án. từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Biên bản nghị án kết thúc lúc 10 giờ 30 phút, cùng ngày. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |