vanban.org

Bản án 68/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-01-2024. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST
Ngày: 09-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Mai

Ông Vũ Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến, có ghi âm, ghi hình phiên tòa qua hệ thống phần mềm (điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thị T, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1968 tại: Tỉnh Nam Định; địa chỉ đăng ký thường trú: Số 15/42 khu C, phường N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú: Số 15/42 khu C, phường N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 036168010xxx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị C (đã chết); có chồng Trần Đình H (đã chết) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 11-01-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa (tại điểm cầu thành phần).

- Người làm chứng: Ông Bùi Văn T2; bà Trần Thị N (không triệu tập tới phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02-01-2024, tổ công tác Công an phường Cửa Nam, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa sân bóng vườn Xoài, đường Lạc Long Quân, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định phát hiện thấy Bùi Thị T đang một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 18S1-7383 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trong gấu áo sơ mi T đang mặc 01 gói nilong màu đen, bên trong có 08 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mỗi gói nhỏ đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. Bùi Thị T khai là gói Heroine vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa Bùi Thị T về trụ sở công an phường Cửa Nam lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Bùi Thị T 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18S1-7383 đã cũ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Bùi Thị T. Tại Bản kết luận giám định số 222/KL-KTHS ngày 08-01-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 08 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng đều được gói trong 01 gói nilong màu đem thu giữ của Bùi Thị T, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,404 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Thị T khai nhận như sau: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 02-01-2024, Bùi Thị T một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 18S1-7383 từ nhà đến khu vực đường ven sông Đào, xã Nam Phong gặp và mua của một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 08 gói Heroine được bọc trong một gói nilong màu đen với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói nilong màu đen có chứa ma túy cất giấu vào gấu áo sơ mi đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKS-TPNĐ ngày 13-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Bùi Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Bùi Thị T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị T từ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.

Bị cáo Bùi Thị T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thị T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02-01-2024; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 02-01-2024; Bản kết luận giám định số 222/KL-KTHS ngày 08-01-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02-01-2024, tại khu vực trước cửa sân bóng vườn Xoài, đường Lạc Long Quân, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, bị cáo Bùi Thị T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,404 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Bùi Thị T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,404 gam. Vì vậy bị cáo Bùi Thị T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Bùi Thị T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo Bùi Thị T sẽ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bùi Thị T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Thị T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Nam Định; tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Bùi Thị T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy trong phong bì niêm phong số 222/KL-KTHS đã thu giữ của bị cáo Bùi Thị T là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Một số vấn đề khác:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Thị T Stài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18S1-7383 (đã cũ) là tài sản của anh Trần Đình K, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 15/42 khu C, phường N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (con trai bị cáo Bùi Thị T). Do anh Trần Đình K không biết việc bị cáo Bùi Thị T mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Đình K là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo Bùi Thị T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-01-2024.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 222/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-3-2024).

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Bùi Thị T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Bùi Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Bùi Thị T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ