- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đỗ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A THÀNH PHỐ P Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 19-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Anh Tuấn
Bà Trần Thị Trúc Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận A, thành phố P.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố P tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận A, thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1989 tại thành phố P; nơi cư trú: Số 416 H, phường H, quận A, thành phố P; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn TH (đã chết) và bà Vũ Thị M; chưa có vợ con;
Tiền sự: Không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HS-ST ngày 09/6/2017 của Toà án nhân dân quận A, thành phố P xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (chưa xoá án tích).
Nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số 79/2006/HS-ST ngày 07/12/2006 của Toà án nhân dân quận A xử phạt 06 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (không có án tích). Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2008/HS-ST ngày 03/6/2008 của Toà án nhân dân quận A, thành phố P xử phạt 08 năm 09 tháng tù về tội "Cướp tài sản" và "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (đã xoá án tích).
Bị tạm giam từ ngày 27/4/2024. Có mặt.
- Bị hại: Bà Vũ Thị M, địa chỉ: số 416 H, phường H, quận A, thành phố P. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 06-9-2023, Đỗ Văn T đang ở nhà tại số 416 H, phường H, quận A, thành phố P cùng với mẹ đẻ là bà Vũ Thị M ở cùng nhà. T nói với bà M vay cho T 15.000.000 đồng, nhưng bà M không đồng ý, vì trước đó bà M đã nhiều lần vay tiền cho, nhưng T không trả được. T đã to tiếng chửi bới mẹ, rồi cầm búa đập phá một số tài sản của bà M trong nhà gồm: 01 ô cửa kính ra vào, 01 ti vi nhãn hiệu Samsung tại phòng khách; 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic tại phòng ngủ; 01 máy lọc nước nhãn hiệu Aqua Korea màu đen để ở sân; 01 điện thoại Nokia màn hình đen trắng của bà M. Nhận được trình báo của bà Vũ Thị M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các vật chứng gồm: 01 ti vi nhãn hiệu Samsung; 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic; 01 máy lọc nước nhãn hiệu Aqua Korea màu đen và 01 búa bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 35cm.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 29-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận A kết luận: giá trị thiệt hại của ô cửa kính ra vào là 121.000 đồng; giá trị thiệt hại 01 ti vi nhãn hiệu Samsung là 5.300.000 đồng; giá trị thiệt hại 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic là 700.000 đồng; giá trị thiệt hại 01 máy lọc nước nhãn hiệu Aqua Korea màu đen là 1.830.000 đồng; không đủ căn cứ xác định giá trị thiệt hại 01 điện thoại Nokia màn hình đen trắng. Tổng giá trị các tài sản bị thiệt hại là 7.951.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A đã trả lại cho bị hại gồm: 01 tivi nhãn hiệu Samsung, 01 tivi nhãn hiệu Panasonic, 01 máy lọc nước nhãn hiệu Aqua Korea.
Về trách nhiệm dân sự : Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Vật chứng: 01 búa bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 35cm..
Bản Cáo trạng số 75/CT-VKSKA ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố P truy tố Đỗ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận các tình tiết vụ án phù hợp Cáo trạng, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là khách quan, đúng người, đúng tội danh; việc phá hoại tài sản của mẹ đẻ là đáng trách.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Đỗ Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Về dân sự: Bị hại không yêu cầu. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 búa bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 35cm. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, bị hại, hoặc người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, hoặc người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bởi vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản, vật chứng, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa. Đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ ngày 06-9-2023, tại nhà bà Vũ Thị M ở số 416 H, phường H, quận A, thành phố P, Đỗ Văn T đã dùng búa đập phá làm hư hỏng 02 tivi, 01 máy lọc nước, 01 ô cửa kính, 01 điện thoại di động của bà Vũ Thị M, tổng giá trị tài sản bị hư hỏng, thiệt hại theo kết luận định giá tài sản là 7.951.000 đồng. Bởi vậy, bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an của địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe, trừng trị đối với bị cáo, qua đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 79/2006/HS-ST ngày 07-12-2006 của Toà án nhân dân quận A, thành phố P, nên không được coi là án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt 08 năm 09 tháng tù vào ngày 23-7-2008, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 15-9-2010 theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 36/2008/HS-ST ngày 03-6-2008 của Toà án nhân dân quận A, thành phố P, nên được xoá án tích. Bị cáo chấp hành xong 18 tháng tù vào ngày 03-9-2018, nhưng chưa thi hành khoản nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2017/HS-ST ngày 09-6-2017 của Toà án nhân dân quận A, nên chưa được xoá án tích. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo thành khẩn khai báo, nên áp dụng các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về áp dụng hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết định khung hình phạt, gây phạm tội đối với mẹ của bị cáo, nhưng cần xử theo mức đề nghị khởi điểm của đại diện Viện Kiểm sát; bảo đảm ổn định an ninh trật tự tại địa phương, tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu thêm, nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về vật chứng: Theo trình bày của bị cáo, bị hại, thì cần tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng liên quan tội phạm là 01 búa bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 35cm.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Đỗ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản".
Xử phạt: Đỗ Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 27 tháng 4 năm 2024.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 búa bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 35cm (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Điều tra Công an quận A và Chi cục Thi hành án dân sự quận A, thành phố P).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. P; - VKSND TP. P; - Sở Tư pháp TP. P; - VKSND quận A; - Công an quận A; - Chi cục THADS quận A; - Bị cáo, đương sự; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Sinh |