- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST Ngày 04-9-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nơi
2. Ông Trần Đăng Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm C khai vụ án thụ lý số: 126/2024/TLST- HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc: "Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 Nơi ĐKHKTT: TDP A, thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Thôn A, xã T1, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988; Địa chỉ: TDP A, thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
(Chị T có mặt, anh C xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 25-01-2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, do kinh tế khó khăn và do vợ chồng không có con chung. Mâu thuẫn căng thẳng đôi bên không khắc phục được đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện Hưng Hà giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về nuôi con chung: Chị và anh C không có con chung.
Về chia tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai và đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 25-01-2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, do kinh tế khó khăn và do anh chơi bời. Mâu thuẫn căng thẳng đôi bên không khắc phục được đã sống ly thân từ năm năm 2015 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
Về nuôi con chung: Anh và chị T không có con chung.
Về chia tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giám sát sự tuân theo pháp luật tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, chị T và anh C đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Chị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, anh C xin vắng mặt, Tòa án đã căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh C sự theo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn C; về nuôi con chung, tài sản chung: Không giải quyết; về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn C, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Anh C xin vắng mặt nên TAND huyện Hưng Hà tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Văn C tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào 25-01-2010, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, chị T và anh C không khắc phục được đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Chị T và anh C mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh C, anh C nhất trí ly hôn vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh C là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Chị T và anh C không có con chung nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Về chia tài sản: Chị T và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không giải quyết.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà về hướng giải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn C.
2.Về nuôi con chung: Không giải quyết.
3. Về chia tài sản chung: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003761 ngày 27-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị T đã nộp đủ).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án ND tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - UBND thị trấn H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Bích Thủy |