- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty T tín dụng Nguyễn Thị Ngọc Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3(JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2024/DS-ST Ngày 08-7-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hùng
Bà Dương Thị Mỹ Liên
- Thư ký phiên toà: bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 277/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T3(JIVF)); địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, 7 N, phường V, quận C, T đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI NOBORU - Tổng Giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị H - Trưởng Bộ phận cấp cao Bộ phận Quản lý Công nợ. Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Thanh T viên JIVF; sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh(theo Giấy uỷ quyền số 600/2023, ngày 12-8-2023), (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm: 1988; địa chỉ: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 14-8-2023, qua làm việc cũng như tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:
Vào ngày 21-4-2022, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có ký hợp đồng với Công ty T3(JIVF) để vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất 2,57%/tháng, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn là 3,855%/tháng, mục đích vay chi phí sửa chữa nhà ở, hình thức trả góp hàng tháng tiền gốc và lãi là 2.829.305 đồng, vay tín chấp. Sau khi vay từ ngày 23-5-2022 đến ngày 25-4-2023 bà Đ có trả được số tiền 33.952.079 đồng, trong đó tiền gốc là 22.289.582 đồng, tiền lãi là 12.518.497 đồng, phí quản lý là 144.000 đồng, từ sau ngày 25-4-2023 bà Đ ngưng không thanh toán nợ theo hợp đồng vay đã ký. Vậy bà Đ1 nợ Công ty số tiền gốc là 28.710.418 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay. Công ty có gửi thông báo nhắc nợ, nhưng bà Đ không trả, nên Công ty khởi kiện.
Nay ông yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải trả cho Công ty T4 số tiền vay gốc là 28.710.418 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến nay 08-7-2024, lãi trong hạn là 9.704.998 đồng, lãi quá hạn là 3.942.176 đồng, phí quản lý khoản vay là 144.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.501.592 đồng. Ngoài ra yêu cầu bà Đ phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Ngày 06-7-2024 ông có đơn xin vắng mặt do bận công việc. Ngoài ra không ý kiến hay yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ2 được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, triệu tập tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng, ngày 06-7-2024 có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, làm vụ án kéo dài thời hạn giải quyết án, là chưa chấp hành theo quy định của pháp luật. Đề nghị xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 90, 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T4 “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Đ3 nghĩa vụ phải trả cho Công ty T4 số tiền nợ gốc là 28.710.418 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: ông Nguyễn Thanh T2 đơn xin vắng mặt có lý do; bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Công ty T5 chấp hợp đồng tín dụng với bà Đ, Toà án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: theo nguyên đơn thì vào ngày 21-4-2022, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có ký hợp đồng với Công ty T3(JIVF) để vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất 2,57%/tháng, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn là 3,855%/tháng, mục đích vay sửa chữa nhà ở và mua bảo hiểm, hình thức trả góp hàng tháng tiền gốc và tiền lãi là 2.829.305 đồng, vay tín chấp. Sau khi vay từ ngày 23-5-2022 đến ngày 25-4-2023 bà Đ có trả được nợ gốc là 22.289.582 đồng, tiền lãi là 12.518.497 đồng, từ sau ngày 25-4-2023 bà Đ ngưng không thanh toán nợ theo hợp đồng vay đã ký. Vậy bà Đ1 nợ công ty số tiền gốc là 28.710.418 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng.
Nay công ty T1JACCS yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải trả số tiền vay gốc là 28.710.418 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến nay 08-7-2024, lãi trong hạn lãi trong hạn là 9.704.998 đồng, lãi quá hạn là 3.942.176 đồng, phí quản lý khoản vay là 144.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.501.592 đồng. Ngoài ra yêu cầu bà Đ phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Bà Đ4 mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên không có ý kiến.
Xét thấy, bà Đ có ký hợp đồng vay của Công ty T1số tiền 50.000.000 đồng, để sửa chữa nhà ở và mua bảo hiểm, hình thức trả góp hàng tháng tiền gốc và tiền lãi là 2.829.305 đồng, bà Đ có trả đến ngày 25-4-2023 được nợ gốc là 22.289.582 đồng, tiền lãi là 12.518.497 đồng, phí quản lý là 144.000 đồng, từ sau ngày 25-4-2023 bà Đ5 không thanh toán nợ theo hợp đồng vay đã ký nên công ty khởi kiện. Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng bà Đ vẫn vắng mặt không lý do. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Đ2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, căn cứ các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp và Toà án thu thập có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc là 28.710.418 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến nay 08-7-2024, lãi trong hạn là 9.704.998 đồng, lãi quá hạn là 3.942.176 đồng, phí quản lý khoản vay là 144.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.501.592 đồng. Ngoài ra yêu cầu bà Đ6 tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên là phù hợp với quy định tại các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3(JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có nghĩa vụ trả cho Công ty T3(JIVF) số tiền vay gốc là 28.710.418 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến nay 08-7-2024, lãi trong hạn là 9.704.998 đồng, lãi quá hạn là 3.942.176 đồng, phí quản lý khoản vay là 144.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.501.592 (Bốn mươi hai triệu năm trăm lẻ một nghìn năm trăm chín mươi hai) đồng. Ngoài ra bà Đ còn phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên.
2. Án phí: bà Nguyễn Thị Ngọc Đ chịu 2.125.000 (Hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T3(JIVF) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 790.000 (Bảy trăm chín mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Toà án số 0015028 ngày 17-11-2023 của Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKS TX. Trảng Bàng; - Chi cục THADS TX. Trảng Bàng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị An |