vanban.org

Bản án 68/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vì Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn P - Hoàng Văn N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MS
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HSST
Ngày : 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Hữu Hưởng

2. Ông Hà Văn Sơ

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Sa Hoàng Nhật Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72 /2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Vì Văn P, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1988 tại huyện MS, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản CC, xã CC, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Vì Văn L, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị C (đã chết). Bị cáo có vợ là Hà Thị L sinh năm 1988. Bị cáo có 02 con con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Văn N, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1981 tại huyện MS, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản CC, xã CC, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Hoàng Văn Th sinh năm 1958 và bà Lò Thị D sinh năm 1963. Bị cáo có vợ là Nông Thị K sinh năm 1985. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 17/2019/HSST ngày 17/4/2019, Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn N 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12//2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn P: Bà Trần Bích Liên – Luật sư cộng tác viên của T tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Hữu T, sinh năm 1980, địa chỉ: Bản CC, xã CC, huyện MS, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 25/12/2022, Vì Văn P đi bộ từ nhà ở bản CC, xã CC, MS, Sơn La đến T tâm xã CC để mua đồ. Trên đường đi về, đến khu vực bản Phát Nam, xã CS, MS P gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang sử dụng ma túy bên đường. P hỏi và mua được của người đàn ông 01 gói Heroine với giá 2.500.000VNĐ. P giấu gói ma túy mua được vào túi áo bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Văn N gọi điện cho P đặt vấn đề mua 2,450.000VNĐ Heroine. P đồng ý và hẹn giao ma túy cách nhà P 100m. P lấy gói ma túy mua được ra lấy một phần gói lại bằng mảnh nilon màu xanh đề bán cho N, gói phần còn lại như cũ rồi giấu dưới đệm giường ngủ. Khoảng 15 phút sau, P cầm gói ma túy đến điểm hẹn giao cho N rồi cầm tiền đi về nhà. Sau khi về, P lấy số ma túy còn lại ra chia làm 05 gói nhỏ gói bằng nilon màu hồng mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Sau khi mua được Heroine của P, Hoàng Văn N điều khiển xe mô tô hiệu SYM elegant (không gắn biển kiểm soát) đi về nhà. N lấy một phần ra sử dụng bằng hình thức chích, phần còn lại chia làm 08 gói ( 07 gói được gói bằng 02 lớp nilon màu xanh; 01 gói được gói bằng nilon màu xanh lá cây bên ngoài lớp bên trong là nilon màu xanh lam) rồi cho toàn bộ vào lọ nhựa màu trắng cất vào túi áo trước bên phải để sử dụng dần. Khoảng 07 giờ ngày 26/12/2022, N mặc chiếc áo cho cất giấu ma túy điều khiển xe mô tô SYM Elegant đi làm nương thì bị Tổ công tác công an xã CC phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.

Căn cứ vào lời khai của Hoàng Văn N, Cơ quan điều tra Công an huyện MS đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật của Vì Văn P, kết quả thu giữ: 02 gói được gói bằng 02 lớp nilon màu hồng tiếp đến là 02 lớp nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine (tại vị trí nền nhà cách cửa ra vào khoảng 50cm); 03 gói nilon trong đó 01 gói được gói bằng 02 lớp nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và 02 gói đều được gói bằng nilon màu hồng, lớp tiếp theo là 02 lớp nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine (tại giường Vì Văn P đang nằm); 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng kèm 02 sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh kèm 02 sim; 01 cân tiểu ly và 1.720.000VNĐ.

Ngày 25/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MS phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Vì Văn P, Hoàng Văn N, kết quả:

- Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng thu giữ của Hoàng Văn N là 1,49 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu từ M1 đến M8 trưng cầu giám định;

- Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng thu giữ của Vì Văn P là 1,4 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M9 đến M13 trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 126/KLMT ngày 29/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “ Các mẫu gửi giám định ký hiệu M1 đến M13 đều là ma túy; Loại Heroine;

Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1= 0,89 gam, M2=0,1 gam,M3= 0,07 gam, M4= 0,09 gam, M5=0,10 gam, M6= 0,07gam, M7=0,09 gam, M8=0,08 gam, M9=0,31 gam, M10=0,32 gam, M11=0,30 gam, M12=0,29 gam, M13=0,18 gam ; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,89 gam; Loại Heroine”.

Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKSMS ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Vì Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251. Truy tố bị cáo Hoàng Văn N tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vì Văn P từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, màu xanh, màu hồng gói ma túy ban đầu và một lọ nhựa màu trắng chứa ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành; 02 vỏ phong bì gửi mẫu giám định đã bóc mở niêm phong được niêm phong trong một phong bì do Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La phát hành; 01 cân tiểu ly điện tử, không có nhãn hiệu, màu trắng, đã qua sử dụng cũ.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu TPLUS G101 1906, bàn phím bấm kèm 01 sim, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Hoàng Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím bấm, kèm 02 sim đã qua sử dụng cũ thu giữ của Vì Văn P.

Trả lại cho bị cáo Vì Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng, vỏ bị vỡ một góc, bị trầy xước nhiều chỗ, màn hình cảm ứng kèm 02 sim, đã qua sử dụng cũ và 1.720.000VNĐ.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N số tiền 1.000.000VNĐ.

Trả lại cho anh Lưu Hữu T 01 xe máy nhãn hiệu SYM, kiểu dáng xe thồ, vỏ màu đen - trắng, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KH9H017609, số máy VMSACBH017609, không có gương chiếu hậu, không có hộp xích, không có vỏ khung nhựa xe, bị hư hỏng nhiều chỗ kèm 01 chìa khóa điện, đã qua sử dụng cũ.

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền Vì Văn P nhận được từ việc bán ma túy cho Hoàng Văn N là 2.450.000VNĐ.

Các bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn P: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo Vì Văn P. Do bị cáo đã thành khẩn khai báo, chưa có tiền án tiền sự và là người thuộc hộ nghèo nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị miễn phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt là 24 đến 36 tháng tù đối với bị cáo Vì Văn P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đề nghị xem xét trả lại chiếc máy cho bị cáo Hoàng Văn N mượn bị thu giữ trong vụ án để quản lý sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện MS, tỉnh Sơn La lập vào hồi 07 giờ 00 phút ngày 26/12/2023 đối với bị cáo Hoàng Văn N thu giữ 1,49 gam Heroine (ký hiệu M1 đến M8 để trưng cầu giám định) mục đích sử dụng cho bản thân.

Căn cứ biên bản khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật của Vì Văn P hồi 12 giờ 20 phút ngày 26/12/2023 thu giữ của bị cáo 1,4 gam Heroine (ký hiệu M9 đến M13 để trưng cầu giám định) mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Kết luận giám định số 126/KLMT ngày 29/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Các mẫu gửi giám định thu giữ của Hoàng Văn N đều là Heroine, có tổng khối lượng là 1,49 gam. Các mẫu gửi giám định thu giữ của Vì Văn P đều là Heroine, có tổng khối lượng là 1,4 gam.

Lời khai của bị cáo Vì Văn P tại phiên tòa thừa nhận do nghiện ma túy nên đã mua Heroine của một người đàn ông không biết tên tuổi tại khu vực bản Phát Nam, xã CS, huyện MS, tỉnh Sơn La để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện để kiếm lời.

Bị cáo Hoàng Văn N tại phiên tòa thừa nhận do nghiện ma túy nên đã đến mua 1,49 gam Heroine của Vì Văn P để sử dụng cho bản thân.

Lời khai của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vì Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điểm 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Xét tính chất vụ án:

Các bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường nhưng bị cáo P vẫn mua để sử dụng cho bản thân và bán lại với mục đích kiếm lời. Bị cáo N vẫn mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Vì Văn P, Hoàng Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Hoàng Văn N có nhân thân xấu đã có một tiền án (đã được xóa án tích) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 17/2019/HSST ngày 17/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2020, chấp hành xong tiền án phí HSST. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với các bị cáo.

Đối với đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo của người bào chữa do bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, thuộc hộ nghèo, có nhân thân tốt: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có đủ nhận thức và hiểu biết về việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy (trình độ văn hóa 9/12) là vi phạm pháp luật nên không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng mức án từ 24 đến 36 tháng tù do chưa tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, nhân thân và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh các bị cáo P, N không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị. Tuy nhiên bị cáo P phạm tội với mục đích vụ lợi, các bị cáo phạm tội ma túy trong vụ án có thu giữ của các bị cáo một khoản tiền nên cần áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251, khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật hình sự phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo P số tiền là 5.000.000VNĐ, bị cáo N số tiền là 1.000.000VNĐ.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo Vì Văn P khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực bản Phát Nam, xã CS, MS, Sơn La. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệmvề toàn bộ khối lượng Heroine đang cất giữ là 1,4 gam và khối lượng Heroine đã bán cho bị cáo N là 1,49 gam.

Bị cáo Hoàng Văn N phải chịu trách nhiệm về khối lượng Heroine thu giữ là 1,49 gam.

Vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy những vật chứng là P tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng gồm: 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, màu xanh, màu hồng gói ma túy ban đầu và một lọ nhựa màu trắng chứa ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành; 02 vỏ phong bì gửi mẫu giám định đã bóc mở niêm phong được niêm phong trong một phong bì do Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La phát hành; 01 cân tiểu ly điện tử, không có nhãn hiệu, màu trắng, đã qua sử dụng cũ.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước các vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu TPLUS G101 1906, bàn phím bấm kèm 01 sim, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Hoàng Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím bấm, kèm 02 sim đã qua sử dụng cũ thu giữ của Vì Văn P.

Trả lại cho bị cáo Vì Văn P các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng, vỏ bị vỡ một góc, bị trầy xước nhiều chỗ, màn hình cảm ứng kèm 02 sim, đã qua sử dụng cũ và 1.720.000VNĐ.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N số tiền 1.000.000VNĐ là tiền do bị cáo lao động mà có, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền Vì Văn P nhận được từ việc bán ma túy cho Hoàng Văn N là 2.450.000VNĐ.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu SYM Elegant, không gắn biển kiểm soát, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Lưu Hữu T. Việc bị cáo N sử dụng xe để đi mua ma túy, T không biết. T có đề nghị trả lại chiếc xe máy để quản lý, sử dụng, cần chấp nhận.

Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn). Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn P do thuộc hộ nghèo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vì Văn P 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Vì Văn P số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

1.2. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 2 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn N số tiền là 1.000.000 đ (Một triệu đồng).

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, màu xanh, màu hồng gói ma túy ban đầu và một lọ nhựa màu trắng chứa ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành; 02 vỏ phong bì gửi mẫu giám định đã bóc mở niêm phong được niêm phong trong một phong bì do Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La phát hành; 01 cân tiểu ly điện tử, không có nhãn hiệu, màu trắng, đã qua sử dụng cũ.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu TPLUS G101 1906, bàn phím bấm kèm 01 sim, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Hoàng Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím bấm, kèm 02 sim đã qua sử dụng cũ thu giữ của Vì Văn P.

Trả lại cho bị cáo Vì Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng, vỏ bị vỡ một góc, bị trầy xước nhiều chỗ, màn hình cảm ứng kèm 02 sim, đã qua sử dụng cũ và 1.720.000VNĐ.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N số tiền 1.000.000VNĐ.

Trả lại cho anh Lưu Hữu T 01 xe máy nhãn hiệu SYM, kiểu dáng xe thồ, vỏ màu đen - trắng, không gắn biển kiểm soát, số khung RLGSC10KH9H017609, số máy VMSACBH017609, không có gương chiếu hậu, không có hộp xích, không có vỏ khung nhựa xe, bị hư hỏng nhiều chỗ kèm 01 chìa khóa điện, đã qua sử dụng cũ.

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền Vì Văn P nhận được từ việc bán ma túy cho Hoàng Văn N là 2.450.000VNĐ.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn). Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn P.

Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ