- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68 /2023/HS-ST Ngày 04-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Bình và ông Nguyễn Thành Luân
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại Nhà văn hóa thôn M, xã N, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2023, của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 tại Vĩnh Phúc; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới Tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Trần Thị A; vợ Bạch Thị H (đã ly hôn) con có 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015: tiền án: Không
Tiền sự: 02 cụ thể:
Ngày 1/9 / 2017 Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định số 12/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 01 năm 06 tháng. Ngày 19/10 / 2019 chấp hành xong, chưa được xóa.
Ngày 05/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội ra quyết định số 13/2021 / QĐ - TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Ngày 17/3 / 2023 chấp hành xong trở về địa phương, chưa được xóa.
Về nhân thân: Ngày 25/7 / 2017 Công an huyện Bình Xuyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua ma túy để sử dụng số tiền 500.000 đồng. Đã nộp phạt ngày 01/8/2017, đã được xóa.
Ngày 28/7/2017, Công an huyện Bình Xuyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua ma túy để sử dụng số tiền 500.000 đồng. Đã nộp phạt ngày 28/8 / 2017, đã được xóa.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 8/4/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
- Người chứng kiến:
+ Anh Đào Anh T1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
+ Ông Ngô Anh T2, sinh năm 1983 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2023, T đi lang thang tại khu vực thị trấn H, huyện Bình Xuyên. Tại đây T gặp một nam thanh niên tự giới thiệu tên là T3 (không rõ họ tên đệm, địa chỉ cụ thể). Qua nói chuyện, T biết T3 cũng nghiện ma túy nên T rủ T3 cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng chung thì T3 đồng ý. T3 đưa cho T số tiền 100.000 đồng, còn T bỏ ra số tiền 200.000 đồng, tổng số tiền góp được là 300.000 đồng. Sau đó, T3 điều khiển xe mộ tô (T không nhớ đặc điểm xe và biển kiểm soát) chở T đến khu vực thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, tại đây T gặp và mua 01 gói ma túy của một nam thanh niên không quen biết với giá 300.000đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vào túi quần trước bên trái đang mặc rồi ngồi lên xe để T3 chở đi tìm nơi sử dụng.
Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến tổ 3, phường H, Phúc Yên, Vĩnh Phúc thì T3 bảo T xuống xe đứng chờ để T3 vào cây xăng ở gần đó mua xăng. T xuống xe đứng chờ được một lúc thì bị Công an thành phố Phúc Yên kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng, còn T3 phóng xe bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Nguyễn Văn T 01 gói giấy màu bạc, bên trong chứa các chất cục bột màu trắng, được cho vào phong bì ký hiệu A1 niêm phong theo quy định. Thu giữ mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T đựng trong 01 chai nhựa có nắp đậy kín được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 11/4/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản Kết luận giám định số 984/KL-KTHS kết luận: “Chất cục, bột màu trắng của mẫu lý hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1792g (Không một bảy chín hai gam, không kể bao bì), loại Heroine (Heroin)”. Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = 0,1528 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao giấy “MẪU TRẢ 894”.
Tại bản Kết luận giám định số 985/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Văn T, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng là mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T - SN 1994, HKTT: thị trấn H, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định”. Morphine là chất ma túy nằm ở danh mục IIA, STT 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”. Cơ quan giám định hoàn lại 0,00ml mẫu cùng bao gói được niêm phong theo quy định.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:
Tại Cáo trạng số: 66/CT - VKSPY ngày 26 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn T đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Văn T; sau khi đánh giá T chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 08 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08 tháng 4 năm 2023, lời khai của người chứng kiến; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/4/2023 Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1792gam với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể điểm c khoản 1 Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroin,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 66/CT - VKSPY ngày 26 tháng 6 năm 2023 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi mua ma túy, hai lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không cai nghiện mà tiếp tục sử dụng ma túy. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc với bị cáo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ phép chất ma túy vì mục đích sử dụng cho bản thân, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với nam thanh niên tên là T3, là người góp tiền đi mua ma túy cùng T, và người đã bán ma túy cho T, đến nay Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, danh tính, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy cơ quan giám định hoàn lại A 1 = 0,1528 gam cùng bao gói và 01 vỏ chai nhựa cơ quan giám định hoàn lại cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù T từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 4 năm 2023.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1 = 0,1528 gam; cùng toàn bộ bao gói, 01 chai nhựa đựng mẫu nước tiểu và toàn bộ bao gói sau giám định. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND Thành phố Phúc Yên; - Công an Thành phố Phúc Yên; - Thi hành án dân sự Thành phố Phúc Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Bích |