vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 05/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Nhân P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Đinh Nhân P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo P số tiền 1.000.000 đồng đã thu giữ để nộp vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo P phạm tội MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Nhân P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68 /2023/HS-ST
Ngày 05-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Chín

Bà Đặng Hồng Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hoàng Diệp – Thư kí Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Nhân Phúc; Sinh ngày 03/04/1994 tại thành phố V, Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 9, xã T2, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đinh Bá Hưng và con bà Nguyễn Thị Nga - sinh năm 1959; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Ngày 11/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đinh Nhân P. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại xã T2, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 10/2/2023, tại khu vực cầu Tiên Dung thuộc tổ 27A, phố H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện vi phạm pháp luật, người này tự khai họ tên là Đinh Nhân P, sinh ngày 03/04/1994; HKTT: Khu 9, xã T2, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, P lấy trong người ra 09 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong cả 09 túi đều có chứa mẫu thực vật khô màu xanh nâu giao nộp cho cơ quan công an. P khai nhận đây là 09 túi ma túy cần sa (P thường gọi là ma túy cỏ) của P mục đích để bán với giá 300.000 đồng/01 túi. Tại chỗ, tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc đối với P; niêm phong thu giữ 09 túi nilon có đặc điểm trên. Ngoài ra còn tạm giữ của P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI (trong nguồn) 359190071894030 kèm 01 sim trong máy số 0975413153; tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Đinh Nhân P. Kết quả dương tính, P có sử dụng chất ma túy.

Ngày 10/2/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu thực vật khô màu xanh nâu bên trong 09 túi nilon màu trắng thu giữ của Đinh Nhân P. Tại Bản kết luận giám định số 235/KL-KTHS ngày 11 tháng 02 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu thực vật khô màu xanh nâu chứa trong 09 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 8,886 gam, loại: Cần sa”.

* Cần sa và các chế phẩm từ cần sa: Số thứ tự 1, Danh mục ID, Nghị Định 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định: 7,060 gam thực vật khô màu xanh nâu là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong túi niêm phong.

Quá trình điều tra, Đinh Nhân P đã tự khai nhận trước khi bị cơ quan công an kiểm tra và tạm giữ 09 túi ma túy cần sa nêu trên, vào khoảng 12 giờ 30 ngày 09/2/2023, P đã bán 01 túi nilon chứa ma túy cần sa cho Vũ Công Tiến, sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú: Đội 1, xã Thụy Vân, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thu được số tiền 200.000 đồng.

Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ khi bắt quả tang, số ma tuý P bán cho Vũ Công Tiến và diễn biến hành vi phạm tội, tại cơ quan điều tra P khai nhận cụ thể như sau:

Khoảng đầu tháng 2 năm 2023, P sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone kèm sim số 0975413153 lên mạng xã hội Telegram, P thấy tại một tài khoản (P không nhớ tên tài khoản là gì, của ai?) có đăng bán ma túy cần sa (P thường gọi là ma tuý cỏ). Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên P đã đặt mua 1.000.000 đồng tiền ma túy cần sa để bán kiếm lời. Người có tài khoản này đồng ý bán cho P và yêu cầu P chuyển tiền qua tài khoản. Sau đó, P đã chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ số tài khoản 808084329999999 từ ngân hàng Nam Á Bank của P đến tài khoản ngân hàng (P không nhớ rõ số tài khoản, ngân hàng) của người bán ma tuý; đồng thời P nhắn tin địa chỉ để người bán ma tuý chuyển ma tuý cần sa cho P. Sau khi chuyển tiền xong, P đã xóa tin nhắn trong ứng dụng Telegram và xóa hết lịch sử giao dịch chuyển tiền trên, P không xác định được tài khoản của người bán ma tuý. Cơ quan điều tra tiến hành sao kê lịch sử giao dịch chuyển khoản từ số tài khoản 808084329999999 của P tại Ngân hàng Nam Á Bank trong thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 09/02/2023 P đã thực hiện nhiều giao dịch chuyển khoản nên không xác định được tài khoản của người bán ma tuý cho P. Khoảng gần một tuần sau, P nhận được bưu phẩm chuyển phát nhanh chuyển đến địa chỉ nhà P, P không biết người gửi là ai, trên bưu phẩm cũng không ghi tên, địa chỉ người gửi hàng và không ghi tên đơn vị giao hàng. P mở gói bưu phẩm kiểm tra thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa mẫu thực vật khô màu xanh nâu P nhận biết đây là ma túy cần sa (ma tuý cỏ) mà P đã đặt mua. Sau đó P chia số ma tuý trên thành 10 túi nhỏ có đặc điểm là các túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ với mục đích để bán, chia xong P đốt bỏ bưu phẩm và túi nilon chứa ma túy đã mua. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/2/2023, P đang ở nhà thì Vũ Công Tiến, sinh năm 2003, HKTT: Xã Thuỵ Vân, thành phố V gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo hỏi mua của P 200.000 đồng tiền ma tuý cỏ. P đồng ý. P bảo Tiến chuyển khoản tiền mua ma tuý cho P đến số tài khoản 808084329999999 của Ngân hàng Nam Á Bank của P rồi hẹn Tiến đến khu vực gần khách sạn V Garden thuộc xã T2, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để nhận ma tuý.Tiến đồng ý và chuyển tiền mua ma tuý cho P. Sau khi nhận được tiền, P cầm 01 túi ma tuý trong số 10 túi ma túy P đã chia trước đó, lấy một ít sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại P gói lại như cũ rồi ra chỗ hẹn gặp Tiến. P đưa Tiến 01 túi ma túy có đặc điểm như mô tả trên. Tiến cầm túi ma túy đi đâu P không biết còn P đi về nhà. Đến khoảng gần 11 giờ ngày 10/2/2023, P đem 09 túi ma túy màu trắng còn lại ra khu vực cầu Tiên Dung thuộc tổ 27A, phố Hai Bà Trưng, thuộc phường Thọ Sơn, thành phố V mục đích nếu ai hỏi mua thì P bán với giá 300.000 đồng/01 túi. Khi P đứng đợi ở đó được một lúc thì bị tổ công tác của Đội CSĐTTP về ma tuý - Công an thành phố V kiểm tra, lập biên bản sự việc, tạm giữ vật chứng, tài sản như trên.

Căn cứ lời khai của P, Cơ quan điều tra triệu tập làm việc đối với Vũ Công Tiến. Tại Cơ quan điều tra, Tiến tự giác giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã cũ, mặt trước điện thoại bị vỡ, số IMEI (trong nguồn) 355408073005460, kèm sim số 0348669042 và khai nhận đây là điện thoại Tiến dùng để liên lạc mua ma tuý cần sa và chuyển khoản tiền mua ma tuý cần sa của P ngày 09/02/2023 để sử dụng như P đã khai. Sau khi mua được ma túy, Tiến đã sử dụng hết cho bản thân bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Vũ Công Tiến. Kết quả dương tính, Tiến có sử dụng chất ma túy.

Về nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do nhu cầu sử dụng chất ma túy và cần tiền tiêu xài cá nhân nên P đã mua ma túy cần sa để sử dụng và để bán kiếm lời.

Quá trình điều tra, Đinh Nhân P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và tự thú đối với hành vi bán ma tuý cho Vũ Công Tiến.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Công Tiến và bị can Đinh Nhân P, ngày 15/02/2023 và ngày 17/02/2023 Công an thành phố V đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tiến và P bằng hình thức phạt tiền: 1.500.000 đồng.

Đối với người có tài khoản trên mạng xã hội Telegram đã bán ma túy cần sa cho Đinh Nhân P do P không nhớ tên tài khoản, không biết tên, tuổi, địa chỉ; sau khi trao đổi mua bán ma tuý, P đã xóa tin nhắn; P cũng không nhớ tài khoản ngân hàng của người này. Ngoài lời khai của P, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được.

Đối với người giao gói hàng có chứa ma túy cần sa cho Đinh Nhân P, P không biết người gửi là ai, trên bưu phẩm cũng không ghi tên, địa chỉ người gửi hàng và không ghi tên đơn vị giao hàng. Ngoài lời khai của P, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được.

Về vật chứng, tài sản bị thu giữ, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ:

- 01 bì niêm phong có số 235/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI 359190071894030, kèm sim số 0975413153 đây là điện thoại di động của P dùng để liên lạc hàng ngày và liên hệ trao đổi mua bán ma túy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã cũ, mặt trước điện thoại bị vỡ, số IMEI 355408073005460, kèm sim số 0348669042 là điện thoại của Tiến sử dụng trao đổi mua ma túy với Đinh Nhân P.

Hiện vật chứng và tài sản trên đều đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an thành phố V.

- Tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng trong đó 1.000.000 đồng là số tiền của P do lao động mà có; 200.000 đồng là số tiền P có được do bán ma túy cho Tiến (Số tiền này P đã tự nguyện giao nộp trong quá trình điều tra), hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 39490904415000000 của Công an thành phố V tại Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ.

Bản cáo trạng số: 70/CT- VKS-VT ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Đinh Nhân P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Nhân P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, căn cứ khoản 1, 5 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Nhân P từ 30 (Ba mươi) đến 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án; áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý vật chứng và án phí.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn, hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng:

Cơ quan điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về nội dung

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai tại phiên toà hôm nay đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 10/02/2023, tại khu vực cầu Tiên Dung thuộc tổ 27A, phố Hai Bà Trưng, phường Thọ Sơn, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đinh Nhân P đang cất giữ trái phép khối lượng 8,886 gam ma túy cần sa mục đích để bán kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng.

Tại Cơ quan điều tra P đã tự thú về hành vi 01 lần bán trái phép 01 túi ma túy cần sa cho Vũ Công Tiến với giá 200.000 đồng vào hồi 12 giờ 30 ngày 09/02/2023. Sau khi mua được túi ma túy cần sa, Tiến đã sử dụng hết cho bản thân nên không xác định được khối lượng.

Hành vi nêu trên của Đinh Nhân P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nhằm mục đích vụ lợi cá nhân của bản thân. Do đó, với hành vi phạm tội của bị cáo phải bị xử phạt nghiêm minh trước pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự khai nhận với cơ quan công an về hành vi phạm tội trước đó chưa bị phát hiện nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại Điểm r, s, Khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Quá trình điều tra xác định bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản gì ngoài số tiền 1.000.000 đồng do lao động mà có đã bị thu giữ nên cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.

. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bì niêm phong có số 235/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả là chất ma túy nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI 359190071894030 đã thu giữ của bị cáo P là phương tiện P sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Tiền nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã cũ, mặt trước điện thoại bị vỡ, số IMEI 355408073005460 kèm sim số 0348669042 đã thu giữ của Vũ Công Tiến, là phương tiện Tiến sử dụng để trao đổi mua bán ma túy với P. Tuy nhiên Tiến không bị xử lý hình sự về hành vi mua bán ma túy mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên cần trả lại cho Tiến chiếc điện thoại trên.

Đối với sim số 0975413153 trong chiếc điện thoại di động đã thu giữ của P là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của P là số tiền P có được do bán ma túy cho Tiến nên cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên bố bị cáo Đinh Nhân P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Đinh Nhân P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo P số tiền 1.000.000 đồng đã thu giữ để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[2]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong có số 235/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước của bị cáo P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI 359190071894030 đã thu giữ của bị cáo P.

- Trả lại cho Vũ Công Tiến 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã cũ, mặt trước điện thoại bị vỡ, số IMEI 355408073005460 kèm sim số 0348669042.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của P.

( Theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 15/5/2023)

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đinh Nhân P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo.

Cỡ chữ