- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Vũ ĐìnhTphạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma t…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày 27 – 9 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Nga
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thái Sơn
Bà Hà Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đình T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1960 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Tổ 10, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Vũ Đình T (đã chết) và bà Tống Thị H, sinh năm 1930; Vợ: Bùi Thị Kh, sinh năm 1962; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1994; Bị cáo có 06 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 17/2012/HSPT ngày 25/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo Vũ Đình T 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc Vũ Đình T bồi thường dân sự số tiền 3.978.000 đồng và phải chịu án phí hình sự theo quy định. Ngày 08/3/2013, Vũ Đình T đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Tính đến thời điểm bị cáo phạm tội (ngày 11/5/2023), bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/5/2023, Vũ Đình T một mình đi bộ từ nhà tại tổ 10, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu đến khu vực đồi chè thuộc tổ 15, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng. Đến nơi, T gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch và đã trao đổi mua bán Heroine với người này. Qua trao đổi mua bán, T mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine với giá 95.000 đồng, gói Heroine này được gói bên ngoài bằng hai lớp, lớp ngoài cùng là 01 mảnh giấy (loại giấy ghi xổ số), lớp tiếp theo là 01 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Mua được Heroine, T cất giấu gói Heroine vào túi áo ngực bên trái đang mặc trên người rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày 11/5/2023, khi T đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc tổ 15, phường T, thành phố L thì bị tổ công tác Công an thành phố L phối hợp với Công an phường T, thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine T đang tàng trữ để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 31/KLGĐ ngày 11/5/2023 của Người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Vũ Đình T trong quá trình bắt quả tang ngày 11/5/2023 có khối lượng là 0,17 gam (không phẩy mười bảy gam). Mẫu chất bột, màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Cáo trạng số 52/CT-VKSTP ngày 24/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu đã truy tố Vũ Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.
- Hình phạt bổ sung: đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh giấy (loại giấy ghi xổ số), 01 mảnh giấy một mặt màu trắng một mặt màu vàng.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 13 giờ 15 phút ngày 11/5/2023, tại tổ 15, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Vũ Đình T đang tàng trữ trái phép 0,17 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố L phối hợp với Công an phường T, thành phố L phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Vũ Đình T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Vũ Đình T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bản án số 17/2012/HSPT ngày 25/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo Vũ Đình T 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc Vũ Đình T bồi thường dân sự số tiền 3.978.000 đồng và phải chịu án phí hình sự theo quy định. Ngày 08/3/2013, Vũ Đình T đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Hiện đã được xóa án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử cần xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,17 gam Heroine Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- Đối với 01 phong bì niêm phong là phong bì công văn của Công an thành phố L (Theo hồ sơ bên trong là 01 mảnh giấy (loại giấy ghi xổ số), 01 mảnh giấy một mặt màu trắng một mặt màu vàng). Xét thấy, vật chứng trên là công cụ phạm tội, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu tại phiên tòa là có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các vấn đề khác: Theo lời khai của Vũ Đình T thì nguồn gốc 0,17 gam Heroine là do T mua của một người đàn ông tại khu vực đồi chè thuộc tổ 15, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu nhưng T không rõ nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, làm rõ.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người cao tuổi theo Luật người cao tuổi nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
[1] Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.
[3] Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh giấy (loại giấy ghi xổ số), 1 mảnh giấy một mặt màu trắng một mặt màu vàng, được niêm phong trong 01 phong bì công văn của Công an thành phố L.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 20 phút ngày 28/8/2023 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu).
[4] Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Công an thành phố L; - VKSND thành phố L; - Chi cục THADS thành phố L; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Bích Nga |