- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn L (tên gọi khác: không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày: 28-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Lịch
Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Xà
Bà Nguyễn Thị Khuyên
Bà Lò Thị Thúy Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Bích Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Lường Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/7/2001, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản H, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn A, sinh năm 1975 và bà Lường Thị X, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2022, tạm giam từ ngày 07/01/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L: Ông Nguyễn Trần D, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 29/12/2022 Lường Văn L điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 27Y1-0ABC một mình đi lên bản K, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên chơi tết người Mông. Tại đây, L gặp và quen một người nam giới, dân tộc Mông khoảng 25 tuổi, không rõ lai lịch. Qua nói chuyện người đó thuê L mang 05 bánh Heroine xuống khu vực bản P, xã B, huyện M bán cho người đi trên xe ô tô màu đen đang chờ ở cạnh đường với giá 130 triệu đồng/bánh, sau đó cầm tiền về sẽ trả tiền công cho L 25 triệu đồng. L nhất trí, nhận 05 bánh Heroine đựng trong túi áo mưa màu đen xanh, có khóa kéo màu đỏ để vào giữa giá xe mô tô rồi điều khiển xe đi đến khu vực bản P. L nhìn thấy một chiếc xe ô tô màu đen không rõ biển kiểm soát đang đỗ cạnh đường, có hai người nam giới không rõ lai lịch mở cửa xe đi xuống, còn 01 nam giới ngồi trên xe ở ghế lái. L tiến đến hỏi, xác nhận đúng là khách mua ma túy của người Mông, nên đã lấy 05 bánh Heroine giao cho một trong hai người đàn ông đó, khi đang trao đổi mua bán ma túy thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 1.640 gam Heroine. Hai người nam giới lên xe ô tô chạy thoát.
Tại Bản Kết luận giám định số: 115/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn L là 1.640 gam.
- 05 (năm) mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Văn L gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
- Bản Cáo trạng số 31/CT-VKSĐB-P1 ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên để xét xử Lường Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 40 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn L tử hình.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn L.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L không tranh luận gì về tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố và luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đồng thời không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị xét xử về tội danh nào khác, chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động vì không liên quan đến vụ án. Do hoàn cảnh kinh tế của gia đình bị cáo còn gặp nhiều khó khăn và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội được sống, để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lường Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra được ghi nhận tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lẫy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được các cơ quan, người tiến hành tố tụng thu thập hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Qua tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận: Do muốn có tiền một cách nhanh chóng để chi dùng cá nhân, khi được đối tượng nam giới người Mông thuê giao bán hộ 05 bánh Heroine (130 triệu/ bánh) và hứa trả công với số tiền là 25 triệu đồng, bị cáo L đã nhất trí và nhận 05 bánh Heroine mang xuống khu vực bản P, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên. Khi bị cáo đang giao dịch 05 bánh Heroine với 02 người nam giới thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 1.640 gam Heroine
Do đó, HĐXX đã đủ cơ sở kết luận hành vi trên của bị cáo Lường Văn L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi mua bán trái phép 1.640 gam Heroine của bị cáo Lường Văn L đã vi phạm tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn L là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn L đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Lường Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi bị bắt, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Song bị cáo nhận thức rất rõ việc pháp luật nghiêm cấm và xử phạt rất nghiêm khắc đối với các hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vì muốn có nhiều tiền một cách nhanh chóng nên bị cáo đã cố tình vi phạm, khối lượng ma túy bị cáo tham gia mua bán là rất lớn 1.640 gam Heroine.
Để nghiêm trị những hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhất là tội phạm về ma túy; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt cao nhất là loại trừ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới tương xứng với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời lấy đó làm bài học cảnh báo chung cho toàn xã hội, phục vụ cho công tác đấu tranh, ngăn ngừa, trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận,
Đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận. Về hình phạt, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có căn cứ nên không chấp nhận vì lượng ma túy mà bị cáo tham gia mua bán đặc biệt lớn 1.640 gam Heroine.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là nông nghiệp, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vì vậy, đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ để chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an huyện M, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Viên kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, số vật chứng đã thu giữ của bị cáo cần xử lý như sau:
- Đối vật chứng là 01 hộp bìa carton hình hộp chữ nhật được dán kín bằng giấy trắng đựng 1.626,6 gam Heroine (đã trích mẫu gửi giám định) đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng, màu trắng, nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng là vật không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu vàng đen, biển số 27Y1-0AAA, số máy 5C64-350BBB, số khung RLCS5C640AY350CCC, xe đã qua sử dụng bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội tuy nhiên đây là xe của anh Lò Văn L (Quàng Văn Đ) khi bị cáo lấy xe mô tô đi anh L không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả xe mô tô cho anh Lò Văn L là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lường Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Bị cáo khai người đàn ông dân tộc Mông và những người nam giới mua ma túy, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh điều tra rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn L (tên gọi khác: không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 40 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lường Văn L tử hình.
Áp dụng khoản 4 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp bìa carton hình hộp chữ nhật được dán kín bằng giấy trắng đựng 1.626,6 gam Heroine là vật chứng của vụ án còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định.
* Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng, màu trắng, mặt sau của điện thoại có chữ Iphone, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 27/3/2023).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lường Văn L.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/4/2023).
Áp dụng Điều 367 của Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên (PC04); - Bị cáo; - Người bào chữa; - UBND xã B, huyện m - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lò Văn Lịch |