- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A Trang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày: 28/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Sỹ Chiến; Ông Vàng A Kỷ.
Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HS ngày 17/7/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mùa A T, (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12; chức vụ trước khi phạm tội: Không. Con ông Mùa Nhà S, sinh năm 1954, con bà Vàng Thị N, (Đã chết). Gia đình bị cáo có 06 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ. Từ năm 2005 đến năm 2023, Mùa A T sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Sùng Thị T, sinh năm 1985, trú tại bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu và có 5 người con chung, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không
Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/HSST ngày 19/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái áp dụng Điều 155 khoản 2 điểm a; Điều 38 khoản 1 điểm a, h; Điều 39 khoản 1 điểm i Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Mùa A T 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản và khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân sự là 853.000 đồng, 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Mùa A T chấp hành xong án phạt tù vào năm 2002 và chấp hành xong các nghĩa vụ trên, hiện đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ hồi 21 giờ 20 phút ngày 04/01/2023, đến ngày 13/01/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bị cáo tham gia tại điểm cầu thành phần 1: Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
- Những người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần 1 Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu:
Ông Lò Văn T - Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
Ông Lò Văn H - Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
- Người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần 2 Phòng Nghiệp vụ Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu:
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O - Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 04/01/2023, Mùa A T, sinh năm 1980, đi bộ từ khu vực bãi vàng thuộc bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên (là nơi T đến trước đó dự định để đi nhặt mót quặng vàng) xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên tìm mua Heroin để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, T gặp và hỏi mua được 01 gói Heroin được gói bằng một mảnh giấy màu trắng của một người phụ nữ dân tộc mông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroin, T mở ra xem rồi nhặt mảnh nion màu xanh dưới đất lên để gói lại gói Heroin vừa mua còn mảnh giấy màu trắng thì T vứt đi. Sau đó T cất giấu gói Heroin vào cạp quần bên trái trước bụng rồi đi bộ lên bãi vàng xã Pắc Ta để đi nhặt mót quặng vàng. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì bị Công an xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang đối với Mùa A T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại cạp quần bên trái trước bụng của T 01 gói Heroin được gói bằng một mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,23 gam.
Ngày 04/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 08/KL-TCGĐ ngày 04/01/2023 của người giám định tư pháp, kết luận vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Mùa A T có khối lượng là 0,23 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã trích 0,17 gam trong tổng số 0,23 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Mùa A T theo T khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 07/01/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroin.
Bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS-TU, ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Mùa A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận điều tra và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mùa A T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/01/2023, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa phân tích, đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Mùa A T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 04/01/2023, tại bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Mùa A T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,23 gam được gói bằng một mảnh nilon màu xanh, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Pắc Ta huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Mùa A T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được điều đó nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Mùa A T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố, mẹ nuôi dưỡng và học hết lớp 2/12 rồi bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình. Ngày 04/01/2023 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 13/01/2023 bị cáo bị khởi tố.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/HSST ngày 19/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt Mùa A T 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản và khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân sự là 853.000 đồng, 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Mùa A T chấp hành xong án phạt tù vào năm 2002 và chấp hành xong các nghĩa vụ trên, hiện đã được xóa án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nên hiểu biết pháp luật còn có nhiều hạn chế. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào, tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có cơ sở đúng pháp luật. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là không đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo nên không được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, nguồn thu nhập thấp, kinh tế còn khó khăn và không có tài sản riêng. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án gồm: 0,23 gam Heroin đã trích 0,17 gam Cơ quan giám định lưu mẫu không hoàn lại. Còn 0,06 gam Heroin sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh. Hội đồng xét xử xác định là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề có liên quan: Về nguồn gốc 0,23 gam Heroin, Mùa A T khai do T mua của một người phụ nữ dân tộc mông không rõ nhân thân, lai lịch ở bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Quá trình điều tra không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo 2023 nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa A T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/01/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư làm bằng bì thư màu trắng, hình chữ nhật của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, bên trong đựng 0,06 gam Heroin sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên)
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Thanh |