vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47

Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST
Ngày 21/4/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ

Ông Nguyễn Văn Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Ông Tạ Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/TLST-

HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

67/QĐXX-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023, đối với:

* Bị cáo: Đỗ Văn T, sinh năm 1994 tại Hà Nội. Nơi đăng ký thường trú

và nơi ở hiện nay: Thôn Sông C, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Đỗ Văn V;

Họ tên mẹ: Trương Thị T; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ:

Chưa có; Danh chỉ bản số 15 do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 20/12/2022;

Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số xxx/2015/HSST ngày 29/10/2015, Tòa án

nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 07 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Ngày

27/02/2016, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 25/8/2016, đã nộp án phí hình sự

200.000 đồng nhưng chưa nộp 520.000 đồng tiền truy thu (Bản án chưa được

xóa); Bản án số xx/2016/HSST ngày 15/6/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thái

Nguyên xử phạt 04 tháng tù về “Tội khai báo gian dối”, ngày 27/8/2016, chấp

hành xong hình phạt tù, tháng 02 năm 2017, đã nộp án phí hình sự 200.000

đồng; Bản án số xxx/2018/HSST ngày 29/8/2018, Tòa án nhân dân huyện Sóc

Sơn xử phạt 30 tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 14/09/2020,

chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo chưa nộp tiền án phí (Bản án chưa được

xóa). Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/12/2022, Đỗ Văn T đang ở bến xe Bình

A, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thì nhận được điện thoại của 01 nam giới (Không rõ nhân thân) sử dụng số điện thoại 0868.588.220 gọi đến số điện thoại 0359.909.614 của T đặt vấn đề mua 03 gói ma túy Heroine. T báo giá 100.000 đồng/gói, tổng hết 300.000 đồng, người đàn ông này đồng ý. T hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực Cầu Đa Phúc, thuộc địa phận thôn Sông Công, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS 29F1 - XXX.XX mang ma túy đến điểm hẹn thì bị Công an huyện Sóc Sơn phát hiện kiểm tra, tạm giữ người cùng tang vật.

Thu giữ của Đỗ Văn T: 06 túi nilon kích thước khoảng (01 x 01) cm bên

trong chứa Heroine, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có lắp số thuê bao 0359.909.614; 01 xe máy BKS 29F1 - XXX.XX.

Cùng ngày 15/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc

Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn T tại thôn Sông Công, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nhưng không phát hiện và tạm giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 8510/KLGĐ-KTHS ngày 22/12/2022, của

Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 06 túi nilon tạm giữ của Đỗ Văn T là ma túy Heroine, khối lượng 0,436 gam.

Xét nghiệm nước tiểu của Đỗ Văn T phản ứng âm tính với ma túy.

Đối với nguồn gốc số ma túy T bị thu giữ: T khai trưa ngày 15/12/2022,

mua của 01 người đàn ông không quen biết ở khu vực Thanh Xuyên, Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với giá 500.000 đồng nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Nguồn gốc của số tiền T mua ma túy là do T lao động mà có.

Đối với người nam giới đặt mua ma túy của T: T khai không biết nhân

thân của người này. Quá trình xác minh xác định chủ thuê bao 0868.588.220 là chị Cao Thị Lộc (Sinh năm 1980, trú tại: Xóm 8, xã Diễm Hạnh, huyện Diễm Châu, tỉnh Nghệ An). Chị Lộc khai không đăng ký, không sử dụng số điện thoại này và bản thân chị Lộc không quen biết Đỗ Văn T nên không có cơ sở để làm rõ đối tượng này.

Quá trình điều tra, xác định xe máy trên đứng tên là anh Phạm Thanh Hòa

(Sinh năm 1976, trú tại: Số 16, Ngách 09/12, Đặng Thai Mai, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội). Hiện anh Hòa đã chết, gia đình anh Hòa đã chuyển đi sinh sống nơi khác nên Cơ quan điều tra không ghi được lời khai. Bà Trương Thị Thái (Sinh năm 1962, trú tại: Thôn Sông Công, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) là mẹ đẻ của T khai: Khoảng tháng 6 năm 2022, bà mua xe máy này tại cửa hàng xe máy cũ (Bà không nhớ tên, địa chỉ của cửa hàng) với giá 16.000.00 đồng. Việc T sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội thì bà không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe máy này cho bà Thái.

Quá trình điều tra, Đỗ Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của

mình như trên.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 24/3/2023, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về "Tội mua bán trái phép chất

ma túy" theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đỗ Văn T thừa nhận ngày 15/12/2022, tàng trữ 0,436 gam ma

túy loại Heroine trên người với mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời

nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Bị cáo

nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình

phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại

phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng

định việc truy tố bị cáo Đỗ Văn T về "Tội mua bán trái phép chất ma túy" theo

điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội,

đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;

Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng

hình sự.

Xử phạt: Đỗ Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính

từ ngày 15/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo là đối tượng nghiện,

không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là

phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công

an huyện Sóc Sơn và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn

và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và

tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc

khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận

hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và các chứng cứ,

tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2022, tại khu vực Cầu Đa Phúc thuộc địa phận

thôn Sông Công, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Đỗ Văn T đã có hành vi mang theo 0,436 gam ma túy loại Heroine trên người để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội này, ngày 29/10/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 07 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” (Bản án này bị cáo chưa được xóa) và ngày 29/8/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 30 tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xác định bị cáo tái phạm (Bản án này bị cáo chưa được xóa). Trong thời gian chưa được xóa án tích của các bản án trên, bị cáo tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là Tái phạm nguy hiểm. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành "Tội mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07

đến 15 năm:

...

q) Tái phạm nguy hiểm.

...".

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về "Tội mua bán trái

phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản

lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm khác và là một vấn nạn mà xã hội đang lên án, đấu tranh nhằm loại trừ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do hám lợi, không chấp hành quy định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân

của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm

hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị

cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s

khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét

giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện sự khoan

hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 3 lần bị xét xử về các Tội trộm

cắp tài sản, Tội khai báo gian dối và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính

chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ các tình tiết

tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội. Hội đồng

xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo

ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa

chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật

Hình sự: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng". Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề

nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung

là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO thu giữ của bị cáo là phương tiện

liên lạc phục vụ việc mua bán ma túy, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;.

- 01 phong bì niêm phong chứa ma túy là vật cấm lưu hành, cần tịch thu

tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47

Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Đỗ Văn T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về "Tội mua bán

trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 15/12/2022.

2. Về vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO

thu giữ của bị cáo Đỗ Văn T.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy có chữ ký của Đỗ

Văn T, Giám định viên và Cán bộ Công an huyện Sóc Sơn.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc

Sơn, tình trạng như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 10/4/2023 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ

thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

4. Về kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ