- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T; Lường Văn L - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày: 13- 6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Hoàng Văn Tiến
2. Ông: Vừ A Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/ TLST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: Họ và tên: Quàng Văn T; Tên khác: Không; Sinh năm: 1978, tại huyện MA, tỉnh Điên Biên; NĐKNKTT: Bản CM, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CM, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn N (đã chết) và con bà Tòng T E, sinh năm 1948; Gia đình bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 07 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Quàng Thị Ư, sinh năm 1978 và có 04 người con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2023 đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ hai: Họ và tên: Lường Văn L; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1964 tại huyện MA, tỉnh Điên Biên; NĐKNKTT: Bản CM, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CM, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 4/10; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lường Văn Ư (đã chết) và bà Lường Thị P, sinh năm: 1917; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Lò Thị K, sinh năm 1973 và có 04 người con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L: Bà Hà Thị T - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 05/02/2023 Lường Văn L đang ở nhà thuộc Bản CM, xã MĐ, huyện MA thì có Quàng Văn T, sinh năm 1978 ở cùng bản đến nói với Lường Văn L góp tiền cùng đi mua ma túy về để cùng sử dụng, Lường Văn L đồng ý góp 100.000đồng, Quàng Văn T góp 100.000đồng. Sau đó Lường Văn L một mình đi đến bản N, xã NC, huyện MA thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết qua trao đổi Lường Văn L mua được 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ ôly với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Lường Văn L đi về nhà. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày tại nhà ở của gia đình Lường Văn L, khi Lường Văn L và Quàng Văn T đang chuẩn bị sử dụng Heroine thì bị Tổ Công tác Công an xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng đến nhà kiểm tra, yêu cầu có gì liên quan đến ma tuý thì giao nộp. Qua vận động Lường Văn L đã tự giác lấy trong túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp 01 gói Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 0,2 gam Heroine.
Ngày 13/02/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Quàng Văn T, Lường Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 09 giờ 25 phút ngày 05/02/2023 thì vật chứng thu giữ của Lường Văn L, Quàng Văn T là 01 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói mảnh giấy trắng có dòng kẻ ôly nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 05/02/2023 thì 01 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói mảnh giấy trắng có dòng kẻ ôly nghi là Heroine có khối lượng là: 0,2 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 280/KL-KTHS, ngày 13/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn L, Quàng Văn T là 0,2 gam.
- Mẫu chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Văn L, Quàng Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số: 35/CT - VKSMA, ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS xử phạt: Bị cáo Lường Văn L từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với các bị cáo.
Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ ôly.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho các bị cáo Quàng Văn T và Lường Văn L.
* Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi được tổ công tác yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Lường Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng cũng như bài bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo Quàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng và bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của các bị cáo cụ thể: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 05 tháng 02 năm 2023, tại nhà ở của Lường Văn L thuộc Bản CM, xã MĐ, huyện MA, Quàng Văn T và Lường Văn L đã bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,2 gam Heroine mục đích để sử dụng chung.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công và bàn bạc cụ thể mà bộc phát nẩy sinh phạm tội, trong đó Quàng Văn T, Lường Văn L là đồng phạm thể hiện ở việc thống nhất ý chí cùng nhau góp tiền để Quàng Văn T đi mua ma túy về để cùng sử dụng.
. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt. Các bị cáo đang ở độ tuổi lao động, trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục các bị cáo và cũng là cơ hội để các bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lường Văn L khi được tổ công tác vận động đã tự giác giao nộp chất ma tuý nên áp dụng khoản 2 điều 51 BLHS cho bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.
Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng:
- 0,13 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ ôly không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo Lường Văn L khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên, địa chỉ ở đâu. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Quàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 02 năm 2023.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lường Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 02 năm 2023.
2. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ ôly.
(Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2023).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo Quàng Văn T, Lường Văn L.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Điện Biên; - VKS tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng; - STP tỉnh Điện Biên; - Công an huyện Mường Ảng; - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn L; - Lưu hs; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Vân |