- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ D phạm tội, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày 22-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ninh Ngọc Tú.
Ông Vy Văn Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Vũ D, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1991, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ B và bà Vũ T; có vợ là Lê T và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn N, sinh năm 1956 (đã chết). Cháu Phạm T, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2017. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện hợp pháp của các bị hại: Chị Đàm H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (là con của bà Nguyễn N, mẹ của cháu Phạm T). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 21/4/2023, Vũ D điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 99H-008.85 chở hàng từ khu công nghiệp Phú Thái thuộc thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đến giao tại thôn Ba Nàng, xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh 242 và đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Ao Đẫu, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng, Vũ D thấy phía trước có người phụ nữ (bà Nguyễn N) điều khiển xe máy điện chở cháu Phạm T, đang đi bên phải phía trước cùng chiều. Nghĩ rằng xe máy điện sẽ đi cùng hướng với mình nên D điều khiển xe ô tô vượt qua, đồng thời đánh lái sang phải vào Quốc lộ 1A để chuyển hướng Hà Nội - Lạng Sơn. Do không đảm bảo khoảng cách an toàn nên phần đầu bên phải xe ô tô đã va chạm với xe máy điện làm đổ xe, bà N và cháu T bị ngã vào gầm xe ô tô, bánh xe ô tô phía trước bên phải đè qua người bà N và xe máy điện. Vũ D dừng xe xuống kiểm tra thì phát hiện bà N đã tử vong, cháu T bị thương. Sau khi nhờ người dân đưa cháu T đi cấp cứu, Vũ D đến Công an huyện Hữu Lũng để trình báo sự việc.
Tại bản kết luận giám định tử thi số: 4573/KLGĐTT-TTPY ngày 26/4/2023, bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 1493/23/KLTTCT-TTPY ngày 15/6/2023, của Trung tâm Pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Bà Nguyễn N chết do đa chấn thương do tai nạn giao thông. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của cháu Phạm T là 32%.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ghi nhận: đoạn đường xảy ra tai nạn là ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh 242 với Quốc lộ 1A, mặt đường rải bê tông nhựa rộng 23,40m. Cách nơi xảy ra tai nạn về hướng Lạng Sơn 20m, giữa đường có vạch kẻ đường dạng đơn nét liền màu vàng phân chia hai chiều xe chạy ngược chiều. Trên chiều đường bên phải hướng Hà Nội - Lạng Sơn có vạch kẻ đường đơn nét đứt và nét liền màu trắng phân chia các làn xe cùng chiều.
Hiện trường được mô tả theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn, các dấu vết được thể hiện về mép đường nhựa bên phải, mốc hiện trường là cột H84 + 800; các dấu vết do va chạm để lại gồm: vết cày xước của xe máy điện; vết vân hoa lốp ô tô; vùng mảnh nhựa vỡ; ô tô, xe máy điện và tử thi đều nằm bên phải đường hướng Hà Nội - Lạng Sơn. Tính từ mép đường tiếp tuyến ra lòng đường, dấu vết gần nhất (điểm đầu vết cày xước) cách mép đường tiếp tuyến 0,30m; dấu vết xa nhất (điểm cuối vết vân hoa lốp ô tô) cách mép đường tiếp tuyến 4,7m.
Theo biên bản khám nghiệm phương tiện: Xe ô tô 99H-008.85 có các dấu vết mài xước, vết mài sạch bụi, vết bám dính tạp chất màu nâu ở lốp trước bên phải, la răng bánh trước bên phải, đầu trước thanh bảo hiểm sườn xe bên phải, má lốp trong trục sau bên phải. Xe máy điện bị hư hỏng, có nhiều vết mài trượt trên nhiều bộ phận: càng xe, mặt nạ xe, ốp xe, cụm đồng hồ đo công tơ mét, hệ thống đèn chiếu sáng, giỏ xe, bình ắc quy, giảm xóc, giá để chân...
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐG ngày 19/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hữu Lũng kết luận: Xe máy điện bị hư hỏng hoàn toàn sau tai nạn giao thông có trị giá 3.500.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định kỹ thuật số: 36/GĐKT-ĐK ngày 28/4/2023, của Công ty Cổ phần Đăng kiểm xe Cơ giới tỉnh Lạng Sơn kết luận: Tại thời điểm kiểm tra, xe ô tô 99H-008.85 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo kỹ thuật. Xe máy điện khi xảy ra tai nạn có hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước và phía sau, còi điện do xe hư hỏng không đủ cơ sở để kết luận; các hệ thống an toàn khác của phương tiện đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn ngày 21/4/2023: Vũ D 0,00 mg/l khí thở. Kết quả kiểm tra test ma túy, Vũ D âm tính với ma túy.
Về dân sự Vũ D đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho các bị hại với tổng số tiền 200.000.000 đồng.
Với nội dung như trên Cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 25 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vũ D, về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của các bị hại chị Đàm H trình bày: Về dân sự hai bên đã thỏa thuận bồi thường xong cho các bị hại với tổng số tiền 200.000.000 đồng, tôi không yêu cầu gì thêm. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm buộc tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 20-24 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C. Đối với xe ô tô 99H-008.85 và 01 xe đạp điện đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét. Về dân sự, áp dụng các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho các bị hại với tổng số tiền 200.000.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị hại không ai có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 21/4/2023, tại ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh 242 và đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Ao Đẫu, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Vũ D điều khiển xe ô tô tải chở hàng biển kiểm soát 99H-008.85, do không chấp hành các quy định về tham gia giao thông đã gây ra tai nạn với xe máy điện do bà Nguyễn N điều khiển chở cháu Phạm T đi phía trước cùng chiều, hậu quả, bà Nguyễn N tử vong tại chỗ, cháu Phạm T bị tổn thương cơ thể 32%. Như vậy, khi tham gia giao thông đường bộ Vũ D đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, quy định tại khoản 5 Điều 4; khoản 2, điểm a, d khoản 5 Điều 14; khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019, của Bộ Giao thông vận tải. Do đó, hành vi trên của Vũ D đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Xét về mức độ lỗi: Bị cáo khi tham gia giao thông không tuân thủ nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ, thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe ô tô tải vượt xe, chuyển hướng xe khi chưa đảm bảo an toàn gây tai nạn, do đó lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần đầu. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và đề nghị mức hình phạt tù cho hưởng án treo và không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C. Đối với xe ô tô 99H-008.85 và 01 xe máy điện, Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về bồi thường thiệt hại: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ D phạm tội, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ D 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/8/2023).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tuấn Việt, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Vũ D 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C. (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, chi tiết được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26 tháng 7 năm 2023)
4. Về án phí: Bị cáo Vũ D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Cơ quan điều tra Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo; người đại diện của bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hải Đoàn |