vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 04/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn F phạm tội "Tàng trữ trái phép chất

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51, Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn F - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn F phạm tội "Tàng trữ trái phép chất
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST.
Ngày 04/8/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phức, bà Trần Thị Nơi.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án

nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên

toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023; Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh

Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 21/7/2023; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HS ngày 24/7/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn F, sinh ngày 08/11/1990 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố

Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị V, sinh năm 1968; Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 24/01/2013 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Thái Bình, thời hạn 12 tháng. Ngày 16/02/2014, chấp hành xong trở về địa phương. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2023, đến ngày 16/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Tổ dân phố Buộm, thị trấn

Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Tuấn P, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Tổ dân phố Đầu, thị trấn Hưng

Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 13/4/2023, tại trục đường liên khu thuộc tổ dân phố

Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn F có hành vi cất giấu ở trong áo sơ mi dài tay, màu xanh để ở trong giỏ xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu BYVIN F đang điều khiển một gói ma túy, loại Heroine. Nguyễn Văn F khai nhận gói ma túy trên F mua của một người đàn ông khoảng 30 đến 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực chân cầu Đặng Xá, tổ dân phố Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong gói ma tuý trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng là anh Hoàng Văn Dương và anh Nguyễn Tuấn Phương. Ngoài ra cơ quan công an còn thu giữ của F 01 chiếc áo sơ mi dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 xe đạp điện nhãn hiệu BYVIN, màu đen, đã qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn F, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 534/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật chứa trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), khối lượng 0,1233 gam.

Bản Cáo trạng số 71/CT-VKSHH, ngày 20/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Hưng Hà đã truy tố Nguyễn Văn F về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn F khai nhận: do bị cáo nghiện ma túy nên vào khoảng

10 giờ 40 phút ngày 13 tháng 4 năm 2023, bị cáo đi đến khu vực chân cầu Đặng Xá, tổ dân phố Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình gặp mua của một người đàn ông khoảng 30 đến 40 tuổi một gói ma tuý với giá 200.000 đồng. Bị cáo cầm gói ma túy giấu ở trong áo sơ mi dài tay, màu xanh để ở trong giỏ xe đạp điện và đi tìm nơi sử dụng. Khi bị cáo đi đến đoạn đường liên khu thuộc tổ dân phố Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thì bị công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình kiểm tra, bắt quả tang đang tàng trữ ma túy.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Nguyễn Văn F phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định.

Bị cáo Nguyễn Văn F đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm

tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng

vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của

bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 11 giờ 10 phút ngày 13/4/2023 tại trụ sở UBND thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 12 giờ 20 phút ngày 13/4/2023 tại trụ UBND thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, bản kết luận giám định số 534/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, biên bản ghi lời khai người làm chứng là anh Hoàng Văn D, anh Nguyễn Tuấn P.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/4/2023,

tại trục đường liên khu thuộc tổ dân phố Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Văn F, nơi cư trú tổ dân phố Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép 0,1233 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua

bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…; c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11

có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000

đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe và làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước cũng đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, ... trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa F. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông

khoảng 30 đến 40 tuổi (không biết họ, tên, địa chỉ), ở khu vực chân cầu Đặng Xá, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu nào khác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng của vụ án số ma túy cơ quan điều tra quản lý của bị cáo

sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số số 534/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng là vật bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng và không xin lại nên cần tịch thu để tiêu hủy.

01 xe đạp điện nhãn hiệu BYVIN, màu đen, đã qua sử dụng, quá trình điều

tra xác định chiếc xe đạp điện thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn Chúc (bố đẻ của bị cáo Nguyễn Văn F), khi lấy xe đi bị cáo không nói, ông Chúc không biết bị cáo sử dụng chếc xe trên để làm phương tiện đi mua và cất dấu ma túy về sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà đã trả lại cho ông Chúc là đúng theo quy định của pháp luật.

Về án phí bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn F phạm tội "Tàng trữ trái phép chất

ma tuý".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51,

Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn F 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 13/4/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo sơ mi dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng và toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn F được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 534/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/7/2023).

4. Về án phí: Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn F phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị

cáo Nguyễn Văn F có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/8/2023. Nơi nhận:

Cỡ chữ