vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Mai Thanh T1 nộp số tiền 2.000.000đ; Buộc bị cáo Đinh Hoàng T2 nộp số tiền 3.700.000đ để sung ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thành T - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST
Ngày: 19-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Minh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thời.

2. Ông Đinh Hữu Luynh.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu; Kiểm sát viên.

Ngày 19/12/2023, tại Hội trường thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2023/HSST ngày 23/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HS ngày 06/12/2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tô Thành T; Tên gọi khác: C; sinh năm: 1985 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Tô Thanh P, sinh năm 1956 (đã chết) và con bà Nông Thị B, sinh năm 1959. Hiện ở P, Đ, Đồng Nai; Em ruột: Có 2 người, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989. Bị cáo là con đầu trong gia đình; Vợ: Dắn Nhộc V, sinh năm 1985, hiện ở thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2023 đến ngày 06/6/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Họ và tên: Mai Thanh T1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996 tại Bình Thuận; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, huyện H, Bình Thuận; Tạm trú: thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Mai Anh D, sinh năm 1972 và con bà Nguyễn Thị Thu V1, sinh năm 1972. Hiện cả hai ở Thôn B, xã T, huyện H, Bình Thuận; Em ruột: Có 2 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009. Bị cáo là con đầu trong gia đình; Vợ: Đinh Lệ Bảo Y, sinh năm 1996, hiện ở thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con: Có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án: Ngày 18/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 30/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân:

+ Ngày 18/7/2018, bị cáo bị công an huyện H, tỉnh Bình Thuận xử phạt hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

+ Ngày 11/10/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Ngày 21/8/2019 bị cáo chấp hành xong quyết định.

+ Ngày 30/10/2018, bị cáo bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm hại đến sức khoẻ người khác.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 26/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

3. Họ và tên: Đinh Hoàng T2; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1976 tại Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Đinh Văn M, sinh năm 1949 và con bà Dương Thị L, sinh năm 1953. Hiện cả hai ở thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; A, em ruột: Có 04 người, lớn sinh năm 1974, nhỏ sinh năm 1989. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nhữ Thị Hồng L1, sinh năm 1979 (đã ly hôn năm 2016); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án: Ngày 21/3/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xử phạt 25.000.000đ về tội “Đánh bạc”, ngày 12/10/2023 bị cáo đã nộp phạt, đến nay chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân:

+ Ngày 24/3/2017, bị cáo bị công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc trái phép. Bị cáo đã nộp phạt ngày 31/3/2017.

+ Ngày 10/5/2017, bị cáo bị công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã nộp phạt ngày 31/7/2017.

+ Ngày 29/12/2017, bị cáo bị công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã nộp phạt ngày 05/01/2018.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 09/10/2023 cho đến nay. Có mặt.

4. Họ và tên: Hỷ A D1; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989 tại Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Hỷ Nhì C1, sinh năm 1953 hiện già yếu và con bà Dắn Thị M1 (đã chết); A, chị, em ruột: Có 7 người, lớn sinh năm 1976, nhỏ sinh năm 1995. Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Vợ: Đặng Thị Mai T3, sinh năm 1997 ở thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Quốc T4, tên gọi khác “Mập”, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

2. Ông Nhỉn Say M2, sinh năm 1978; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

3. Anh Hỷ Khìn Ố, sinh năm 1992; Hộ khẩu thường trú: Số nhà B, xóm D, thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

4. Ông Chống Nhật S, sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

5. Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1977; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

6. Ông Lưu Hoàng C2, sinh năm 1974; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

7. Anh Trần Văn S2, tên gọi khác “Sĩ nhóc”, sinh năm 2003; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

8. Anh Lê Tấn Công M3, tên gọi khác “ Tư Chỉa”, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

9. Anh Tạ Hoàng V2, sinh năm 2003; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, L, N, Cà Mau; Nơi ở hiện tại: Nhà T, thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

10. Ông Nguyễn Tấn B1, sinh năm 1981; Hộ khẩu thường trú: Số C, đường C phường X, quận N, thành phố Cần Thơ; Tạm trú: Nhà trọ M5, thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

11. Anh Chống Nam S3, tên gọi khác “Sáng Mập”, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: Xóm D, Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh TSần Tắc L2, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Anh Lê Văn P1, sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

3. Ông Phan Tấn H, sinh năm 1973; Hộ khẩu thường trú: 32/30 phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số C Đ, H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

4. Ông Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1979; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

5. Anh Bùi Quốc N, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

6. Anh Phú Minh L3, sinh năm 1987; Thôn G, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

7. Anh Trần Ngọc T5, sinh năm 1988; Số nhà 208, xóm F, Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày ngày 03/6/2023, Đinh Hoàng T2 (đã có 01 tiền án chưa được xoá án tích) gọi điện thoại cho Tô Thành T nhờ T cáp kèo đá gà được thua nhau bằng tiền giữa gà của T2 (loại gà Lông) với gà của người khác thì T đồng ý. Sau đó có Sáng M4 (chưa rõ lai lịch) điện thoại cho T nhờ T cáp kèo đá gà với gà của Sáng M4 nên T đã cáp kèo đá gà giữa gà của T2 với gà của Sáng M4 đồng thời T nói với T2 và Sáng M4 mang gà ra bãi đất trống ở thôn N, K để đá gà. Lúc này T chuẩn bị 01 cân và 02 cây băng keo mang đến bãi đất trống để phục vụ cho việc đá gà. Đến khoảng 9 giờ sáng cùng ngày T2 và Sáng M4 mỗi người mang một con gà lông đến vị trí đã hẹn, tại đây có nhiều người biết thông tin có đá gà thắng thua nhau bằng tiền nên tụ tập xem và tham gia cá cược. Các trận đá gà thắng thua nhau bằng tiền diễn ra cụ thể như sau:

Trận thứ nhất:

Gà của Đinh Hoàng T2 đá với gà của Sáng M4, lúc này hai bên xác định hai con gà có cùng trọng lượng nên tỷ lệ cá cược của trận này là đá đồng, số tiền đá sổ là 2.000.000đ (mỗi bên 2.000.000đ), tổng số tiền cá cược là 4.000.000đ. Gà của T2 do một người đàn ông tên Cu L4 (chưa rõ nhân thân lai lịch) băng cựa, thả gà còn gà của Sáng M4 do Sáng M4 băng cựa, thả gà. Tham gia đá hàng xáo bên ngoài gồm Lưu Hoàng C2, sinh năm: 1974 ở N, Ka Đ tham gia cá cược số tiền 500.000đ; Chống Nhật S, sinh năm: 1986 ở ở N, K tham gia cá cược 500.000đ, Nguyễn Thanh S1, sinh năm: 1977 ở N, K tham gia cá cược 500.000đ và một người đàn ông chưa rõ lai lịch cá cược 500.000đ, số tiền cá cược này đều thông qua T làm trọng tài. Kết quả trận đá gà này thì gà của T2 thắng gà của Sáng M4 nên T lấy số tiền 2.000.000đ từ Sáng Mập và đưa cho T2, T2 trả cho T 200.000đ tiền trọng tài, băng keo và cho thêm T 100.000đ, còn lại 1.700.000đ T2 mang về cùng với con gà lông đã đá.

Đối với số tiền đá hàng xáo bên ngoài là 2.000.000đ thì T lấy từ những người thua và đưa cho những người thắng, T không được lợi ích gì từ việc thu tiền đá hàng xáo.

Trận thứ hai:

Sau khi đá xong trận thứ nhất thì T hỏi Mai Thanh T1 có gà đá không thì T1 gọi điện thoại cho Tạ Hoàng V2, sinh năm: 2003 ở Cà Mau, tạm trú tại thôn Q, Q nhờ V2 nói với Nguyễn Tấn B1, sinh năm 1981 ở Phường X, Quận N, Thành Phố Cần Thơ, B1 ở trọ cùng nhà trọ với V2 đem con gà lông của B1 ra bãi đất trống ở N, K để đá gà thì B1 đồng ý. Sau đó Hỷ A D1 về nhà của D1 mang 01 con gà lông ra để đá với gà của B1, khoảng 30 phút sau thì Vô cùng B1 mang 01 con gà lông đến, D1 mang 01 con gà lông đến. Sau khi xác định hai con gà có cùng trọng lượng nên trận gà này tỷ lệ cá cược là đá đồng, số tiền cá cược đá sổ là 2.000.000đ (mỗi bên 2.000.000đ), ngoài ra giữa T1 và D1 còn đá hàng xáo bên ngoài thêm 1.000.000đ không thông qua trọng tài, tổng số tiền cá cược trận này giữa T1 và D1 là 6.000.000đ. Số tiền cá cược theo gà của T1 gồm: T1 cá cược 2.000.000đ (cá cược đá sổ 1.000.000đ và cá cược đá hàng xáo với Dưỡng 1.000.000đ), trong số tiền đá sổ 2.000.000đ thì T1 chia cho ông B1 1.000.000đ (trong đó B1 cá cược 300.000đ, ông B1 chia cho một người không rõ lai lịch 200.000đ, B1 chia cho Vô 500.000đ, Vô cá cược 300.000đ, V2 chia cho một người không rõ lai lịch 200.000đ); số tiền cá cược theo gà của D1 gồm: Dưỡng cá cược 2.000.000đ (cá cược đá sổ 1.000.000đ và cá cược đá hàng xáo với T1 1.000.000đ), trong số tiền đá sổ 2.000.000đ thì D1 chia cho ông Nhỉn Say M2, sinh năm:1978 ở N, K 1.000.000đ (trong đó M2 cá cược 300.000đ, M2 chia cho Hỷ Khìn Ố, sinh năm: 1992 ở N, K 300.000đ, M2 chia cho B2 (không rõ lai lịch) 400.000đ, trận gà này đang diễn ra thì bị công an huyện Đ phát hiện và lập biên bản bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan gồm: 01 cân (ký) loại 05 kg, 02 (hai) giỏ lát dùng để đựng gà, 35 (Ba mươi lăm) cuộn băng keo; 06 (sáu) con gà lông. Ngoài ra, còn tạm giữ trên người các đối tượng một số tài sản, đồ vật, tài liệu (có biên bản kèm theo).

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức đá gà được thua nhau bằng tiền của 02 trận nói trên là 10.000.000đ.

Cáo trạng số 69/CT-VKSĐD ngày 22/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố các bị can Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Mai Thanh T1 từ 12 đến 15 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T2 từ 09 đến 12 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hỷ A D1 từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Tô Thành T từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ.

Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 cân (ký) loại 05 kg, 02 (hai) giỏ lát dùng để đựng gà, 35 (Ba mươi lăm) cuộn băng keo; 01 áo thun màu trắng, 01 quần soọc, màu xanh nhạt, 01 mũ lưỡi trai bằng vải; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu xanh thu giữ của Tô Thành T; số tiền đánh bạc cơ quan điều tra đã thu giữ là 6.300.000đ; Buộc bị cáo Mai Thanh T1 nộp số tiền 2.000.000đ; Buộc bị cáo Đinh Hoàng T2 nộp số tiền 3.700.000đ để sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận như sau:

Bị cáo T khai: Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 03/6/2023, sau khi nghe Đinh Hoàng T2 gọi điện thoại cho T nhờ cáp kèo đá gà được thua nhau bằng tiền, sau đó Sáng M4 cũng gọi nên T đã cáp kèo đá gà giữa gà của T2 với gà của Sáng M4 đồng thời T nói với T2 và Sáng M4 mang gà ra bãi đất trống ở thôn N, K để đá gà. Lúc này T chuẩn bị 01 cân và 02 cây băng keo mang đến bãi đất trống để phục vụ cho việc đá gà. Tại đây có nhiều người biết thông tin có đá gà thắng thua nhau bằng tiền nên tụ tập xem và tham gia cá cược. Gồm có 02 trận.

Trận thứ nhất: Gà của Đinh Hoàng T2 đá với gà của Sáng M4, lúc này hai bên xác định hai con gà có cùng trọng lượng nên tỷ lệ cá cược của trận này là đá đồng, số tiền đá sổ là 2.000.000đ (mỗi bên 2.000.000đ), tổng số tiền cá cược là 4.000.000đ. Ngoài ra, có một số người tham gia đá hàng xáo bên ngoài. Số tiền cá cược đều thông qua T làm trọng tài. Kết quả trận đá gà này thì gà của T2 thắng gà của Sáng M4 nên T lấy số tiền 2.000.000đ từ Sáng Mập và đưa cho T2, T2 trả cho T 200.000đ tiền trọng tài, băng keo và cho thêm T 100.000đ, còn lại 1.700.000đ T2 mang về cùng với con gà lông đã đá.

Trận thứ hai: Sau khi đá xong trận thứ nhất thì T hỏi Mai Thanh T1 có gà đá không thì T1 gọi điện thoại cho bạn nói với Nguyễn Tấn B1 để đá gà thì B1 đồng ý. Sau đó Hỷ A D1 về nhà của D1 mang 01 con gà lông ra để đá với gà của B1. Sau khi xác định hai con gà có cùng trọng lượng nên trận gà này tỷ lệ cá cược là đá đồng, số tiền cá cược đá sổ là 2.000.000đ (mỗi bên 2.000.000đ), ngoài ra giữa T1 và D1 còn đá hàng xáo bên ngoài thêm 1.000.000đ không thông qua trọng tài, tổng số tiền cá cược trận này giữa T1 và D1 là 6.000.000đ. Trận gà này đang diễn ra thì bị Công an huyện Đ phát hiện và lập biên bản bắt quả tang.

Bị cáo Đinh Hoàng T2 khai nhận: bị cáo đang có một tiền án về tội “Đánh bạc”, sáng ngày 03/6/2023, bị cáo T2 gọi điện thoại cho T nhờ cáp kèo đá gà và có tham gia cá cược ở trận thứ nhất với tổng số tiền cá cược 4.000.000đ như cáo trạng nêu.

Bị cáo Mai Thanh T1 và bị cáo Hỷ A D1 khai nhận có tham gia cá cược đá gà ở trận thứ hai với tổng số tiền cá cược 6.000.000đ như cáo trạng nêu.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Vào ngày 03/6/2023, tại thôn N, Ka Đ, Đ, Mai Thanh T1, Hỷ A D1 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức cá độ đá gà thắng thua nhau bằng tiền với số tiền 6.000.000đ, Đinh Hoàng T2 có hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ đá gà thắng thua nhau bằng tiền với số tiền 4.000.000đ, Tô Thành T có hành vi chuẩn bị các công cụ để phục vụ cho việc đá gà, làm trọng tài chung chi tiền thắng thua. Hành vi của Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 là vi phạm pháp luật.

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Đinh Hoàng T2 (đã có 1 tiền án về tội đánh bạc chưa được xoá án tích) nay tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép với số tiền là 4.000.000đ nêu trên đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 6.000.000đ của Mai Thanh T1, Hỷ A D1 nêu trên đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi chuẩn bị công cụ, tham gia làm trọng tài chung chi tiền thắng thua nêu trên của Tô Thành T đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Đánh bạc dưới hình thức đá gà là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, gây bất ổn xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vì muốn sát phạt nhau bằng tiền nên vẫn thực hiện. Bị cáo Tô Thành T có hành vi chuẩn bị công cụ, tham gia làm trọng tài chung chi tiền thắng thua nên là đồng phạm với vai trò giúp sức. Do đó, cần xử lý mức án tương ứng với hành vi phạm tội.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mai Thanh T1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là tình tiết tăng nặng cho bị cáo. Bị cáo Đinh Hoàng T2 đã có 1 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xoá án tích, tuy nhiên là tình tiết định khung nên không áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tô Thành T, Hỷ A D1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Bị cáo T1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Xét bị cáo Mai Thanh T1 ngoài lần phạm tội này thì bị cáo đã bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; bị cáo Đinh Hoàng T2 nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và đã bị xử phạt tiền về tội “Đánh bạc” chưa chấp hành lại tiếp tục vi phạm nên cần xử phạt tù đối với các bị cáo và phạt tiền là hình phạt bổ sung nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Tô Thành T, Hỷ A D1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên chỉ cần phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo đấu tranh phòng ngừa chung.

Việc thu giữ, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 cân (ký) loại 05 kg, 02 (hai) giỏ lát dùng để đựng gà, 35 (Ba mươi lăm) cuộn băng keo. Quá trình điều tra xác định tài sản trên là của Tô Thành T, đây là tang vật của vụ án xét thấy giá trị không lớn nên tịch thu, tiêu huỷ.

- Đối với 06 con gà lông bị tạm giữ (T1 01 con, D1 01 con, Phan Tấn H 01 con, Phú Minh L3 01, còn lại 02 con gà không xác định chủ sỡ hữu), tạm giữ ngày 03/6/2023, đến ngày 04/6/2023 thì 06 con gà lông đã chết, cơ quan điều tra đã tiêu huỷ nên không đề cập đến.

- Đối với 01 áo thun màu trắng, 01 quần soọc màu xanh nhạt, 01 mũ lưỡi trai bằng vải, đây là trang phục của Tô Thành T mặc khi bị bắt, xét thấy giá trị không lớn và T không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu xanh thu giữ của Tô Thành T, đây là điện thoại mà T sử dụng để gọi điện thoại nhận cáp kèo đá gà, là tang vật của vụ án nên tịch thu, sung ngân sách Nhà Nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu I phone 6 của Đinh Hoàng T2 sử dụng để liên lạc với bị can Tô Thành T nhờ cáp kèo đá gà, do T2 đã làm mất, không thu hồi được nên không đề cập đến.

- Quá trình điều tra xác định Mai Thanh T1 sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc (chưa thắng thua), Hỷ A D1 sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc (chưa thắng thua), Đinh Hoàng T2 sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc (thắng 1.700.000đ), Tô Thanh T6 được hưởng lợi 300.000 tiền làm trọng tài (do bị can T2 thắng cá cược cho T6), Nguyễn Thanh S1 sử dụng 500.000đ để đánh bạc (thắng 500.000đ), Nguyễn Quốc T4 sử dụng 500.000đ để đánh bạc (thắng 500.000đ), Nhỉn S sử dụng 700.000đ để đánh bạc (chưa thắng thua), Nguyễn Tấn B1 sử dụng 500.000đ để đánh bạc (chưa thắng thua), Tạ Hoàng V2 sử dụng 500.000đ để đánh bạc, Hỷ Khìn Ố sử dụng 300.000đ để đánh bạc (chưa thắng thua). Tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 12.000.000đ. Trong đó số tiền đánh bạc mà cơ quan điều tra thu giữ và các đối tượng nộp lại là 6.300.000đ (bao gồm: Dưỡng 2.000.000đ, T6 300.000đ, Sinh 1.000.000đ, Vô 500.000đ, B1 500.000đ, Trường 1.000.000đ, Mầu 700.000đ, Ốn 300.000đ ). Đây là số tiền mà các bị can và các đối tượng sử dụng để đánh bạc nên tịch thu, sung ngân sách Nhà Nước.

Số tiền còn lại 5.700.000đ (trong đó 2.000.000đ của Mai Thanh T1 sử dụng đánh bạc; 3.700.000đ của Đinh Hoàng T2 sử dụng đánh bạc (2.000.000đ tiền đánh bạc, 1.700.000đ là tiền thắng bạc) nên buộc các bị cáo T1, T2 phải nộp lại để tịch thu, sung ngân sách Nhà Nước.

- Đối với số tiền 500.000đ và 01 điện thoại Samsung Galaxy J6 tạm giữ của Lưu Hoàng C2; 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23 5G, màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu LG V50 Thin Q màu đen của Phan Tấn H; số tiền 200.000đ và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A14 5G của Hỷ Khìn Ốn; 01 ĐTĐĐ Samsung Galaxy A12, màu đen của Bùi Quốc N; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A04, màu đen và số tiền 2.000.000đ của Huỳnh Ngọc H1; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen của Trần Văn S2; 01 ĐTDĐ Nokia 1280, màu đen của Nguyễn Thanh S1; 01 ĐTDĐ Iphone 6S, màu bạc và số tiền 300.000đ của Nhỉn Say Mầu; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh và số tiền 1.000.000đ của Lê Văn P1; số tiền 1.000.000đ và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 13 Promax, màu gold của Nguyễn Quốc T4; số tiền 2.100.000đ và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6S, màu gold của TSần Tắc Lập; số tiền 1.200.000đ và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X, màu trắng của Trần Ngọc T5; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, màu xanh của Chống Nhật Sáng; 01ĐTDĐ hiệu Iphone SE, màu hồng và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X, màu trắng của Lê Tấn Công M3; 01ĐTDĐ hiệu Nokia, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A21s; số tiền 500.000đ của Phú Minh L3; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A03S, màu đen của Nguyễn Tấn B1; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A04, màu đen của Tạ Hoàng V2. Quá trình điều tra xác định số tiền và tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sỡ hữu là thoả đáng nên không đề cập đến.

Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thanh S1, Nguyễn Quốc T4, Nhỉn S, Trần Văn S2, Lê Tấn Công M3, Lưu Hoàng C2, Nguyễn Tấn B1, Tạ Hoàng V2, Hỷ K, Chống N, Chống N (S) do chưa đủ định lượng để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự, qua tra cứu các đối tượng trên không có tiền án, tiền sự gì liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính các đối tượng trên là thoả đáng.

Đối với các đối tượng tên C3, Cu L4, Bờm hiện nay cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra đã tách ra để xác minh, xử lý sau nên không đề cập đến.

Đối với các đối tượng bị bắt quả tang gồm: Phan Tấn H, Bùi Quốc N, Huỳnh Ngọc H1, Lê Văn P1, TSần Tắc Lập, Trần Ngọc T5, Phú Minh L3, qúa trình điều tra xác định các đối tượng trên không tham gia đánh bạc nên không xem xét.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Mai Thanh T1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 26/10/2023 vào thời gian chấp hành án; Phạt bổ sung bị cáo Mai Thanh T1 20.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T2 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/10/2023; Phạt bổ sung bị cáo Đinh Hoàng T2 20.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hỷ A D1 30.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Tô Thành T 30.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Mai Thanh T1 nộp số tiền 2.000.000đ; Buộc bị cáo Đinh Hoàng T2 nộp số tiền 3.700.000đ để sung ngân sách nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy 01 cân (ký) loại 05 kg, 02 (hai) giỏ lát dùng để đựng gà, 35 (Ba mươi lăm) cuộn băng keo; 01 áo thun màu trắng, 01 quần soọc màu xanh nhạt, 01 mũ lưỡi trai bằng vải.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu xanh thu giữ của Tô Thành T; Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền đánh bạc cơ quan điều tra đã thu giữ là 6.300.000đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Tô Thành T, Mai Thanh T1, Đinh Hoàng T2, Hỷ A D1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và anh Hỷ K Ốn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ