- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội m…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
- Căn cứ chính? Điều 323 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-PT Ngày 31/1/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đông xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán: Ông Trần Nam Hà, ông Lưu Ngọc Cảnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 31/1/2023, tại Tòa án Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công
khai vụ án hình sự thụ lý số: 1045/2022/TLPT-HS ngày 27/12/2022; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 207/2022/HSST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Quang T, sinh năm 1981; tại Hà Nội; Nơi
ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội, nghề nghiệp: Lao động tự do; Học phổ thông: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang N và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Nguyễn Thị D; có 03 con, lớn sinh năm 2002 và nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2012/HSST ngày 19/3/2012,
Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh G xử phạt: 02 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 tháng 24 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2022 đến nay tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội (có mặt).
Vụ án có bị cáo Quách Văn A và bị hại là anh Nguyễn Văn H không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quang T làm nghề lái xe ô tô. Quá trình chở khách, bị cáo T thấy có nhiều người nhờ hỏi mua xe máy giá rẻ (loại xe có nguồn gốc không hợp pháp) nên tìm nguồn mua các loại xe này đem bán để hưởng lợi. Năm 2017, bị cáo T biết Nguyễn Quang L và Nguyễn Quang Đ là những người ở cùng thôn có thuê xưởng gỗ của ông Nguyễn Quang N là bố đẻ của T để làm nơi chứa chấp xe máy do phạm tội mà có nên bị cáo T đã mua xe máy của L và Đ rồi đem bán lại kiếm lời.
Khoảng tháng 07/2017, Quách Văn A quen biết với ông Nguyễn Quang N
(là bố của T). Do có nhu cầu mua xe máy tay ga để đi và không có nhiều tiền nên A đã nhờ T tìm mua giúp 01 chiếc xe máy tay ga không giấy tờ (xe do phạm tội mà có). Thông qua Nguyễn Quang L, T biết Đ đang có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu đen, số máy F51E0012996, số khung Y012935. T hỏi mua của Đ và được Đ đồng ý bán với giá 15.000.000 đồng. Sau khi mua được xe, T bán lại cho A với giá 16.500.000 đồng. A đồng ý mua và mang tiền đến khu hồ câu thôn X để nhận xe. A sử dụng xe máy đến ngày 08/6/2022 thì bị Cơ quan tra, Công an thành phố Hà Nội thu giữ.
Hồi 06 giờ ngày 07/6/2022, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát hình sự,
Công an thành phố Hà Nội phối hợp cùng Công an huyện S kiểm tra khu vực bãi đất trống thuộc cánh đồng thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ nhiều xe máy liên quan đến hành vi phạm tội của nhiều đối tượng, trong đó có Nguyễn Quang Đ và phát hiện Nguyễn Quang T có mặt tại hiện trường nên đã đưa T về Cơ quan điều tra, Công an thành phố Hà Nội để đấu tranh, làm rõ.
Ngày 11/6/2022, Nguyễn Quang T và Quách Văn A bị Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an thành phố Hà Nội bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Quá trình bắt giữ Nguyễn Quang T, Quách Văn A và điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội thu giữ các đồ vật sau:
- Thu giữ của Nguyễn Quang T: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6,
- Thu giữ của Quách Văn A: 01 xe máy nhãn hiệu SH mode, số máy
F51E0012996, số khung Y012935.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 202/KLĐGTS ngày 20/6/2022 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH mode, biển kiêm soát 20H1-165.62, số máy F51E0012996, số khung RLHJF5106DY012935, đăng ký lần đầu ngày 18/9/2013, có trị giá là 35.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã xác minh và xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda
SH mode, số máy F51E0012996, số khung RLHJF5106DY012935 được đăng ký biển kiểm soát 20H1-165 là tài sản của anh Nguyễn Văn H. Ngày 16/6/2017, anh H đã bị trộm cắp chiếc xe máy này tại xã Đ, thị xã P, tỉnh T. Ngày 06/9/2022, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy trên cho anh H. Anh H đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Quang T khai nhận: Ngoài lần tiêu
thụ xe máy do phạm tội mà có nêu trên, T còn nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội khác, trong đó: Năm 2011, T đã mua của Nguyễn Quang L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 150 màu nâu với giá 25.000.000 đồng và bán lại cho Nguyễn Cảnh D với giá 26.000.000 đồng.
Nguyễn Cảnh D khai nhận: Khoảng năm 2010 và 2011, D mua của
Nguyễn Quang Đ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH150i và của Nguyễn Quang L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH150 với giá 35.000.000 đồng/01 xe. D đã bán 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 150i cho Đỗ Thị H với giá 50.000.000 đồng. Chị H sử dụng xe máy đến ngày 11/5/2013 thì bị Công an phường B, quận T, thành phố Hà Nội, kiểm tra hành chính tại phố T phát hiện xe không có giấy tờ nên đã đưa về trụ sở Công an phường B làm rõ. Sau khi chị H bị phát hiện và thu giữ xe, D cũng bị Công an phường B thu giữ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH150 đang sử dụng. Sau đó, chị H và D được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T thông báo về việc đã trả lại xe cho các bị hại và không xử lý gì đối với hai người. Xác minh tại Công an phường B, xác định: Có sự việc như lời khai của D và H. Công an phường B đã chuyển toàn bộ vật chứng cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. Hiện Công an quận T chưa cung cấp được tài liệu và hồ sơ liên quan. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ liên quan để xác minh, xử lý sau
Đối với hành vi tiêu thụ xe máy do phạm tội mà có của Nguyễn Quang Đ và Nguyễn Quang L. Tại Cơ quan điều tra, Đ và L không khai nhận đã bán xe máy cho Nguyễn Quang T. Hiện Nguyễn Quang Đ đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố bị can và điều tra về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có liên quan đến nhiều xe máy thu giữ trong quá trình kiểm tra, khám xét ngày 07/6/2022 tại khu vực bãi đất trống thuộc cánh đồng thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội. Còn Nguyễn Quang L đang bị Cơ quan điều tra, Công an thành phố Hà Nội khởi tố bị can về tội Cưỡng đoạt tài sản. Do Đ và L không khai nhận hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra tách phần tài liệu liên quan để điều tra, làm rõ toàn bộ hành vi của Đ, L để tổng hợp chung.
Ngoài việc mua xe máy do phạm tội mà có của Nguyễn Quang Đ và Nguyễn Quang L, T còn khai mua xe máy do phạm tội mà có của Trịnh Bá M và Đặng Văn Th rồi bán lại cho nhiều người khác. Ngoài lời khai của T, không có các tài liệu chứng cứ khác. Hiện M và Th không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách phần hồ sơ liên quan để xác minh, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 384/CT-VKS ngày 04/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Quang T và Quách Văn A, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 207/2022/HSST ngày 18/11/2022 của Tòa án
nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Quang T 15 tháng tù, về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù T từ ngày 11/6/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật
hình sự xử phạt: Quách Văn A 12 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Ngoài ra Bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 22/11/2022, bị cáo Nguyễn Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Quang T giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ bị bệnh nặng, bị cáo là lao động chính đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề
nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 207/2022/HSST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Quang T 12 tháng tù,về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù T từ ngày 11/6/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn,
đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm,
phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Để có tiền tiêu xài, bị cáo Nguyễn Quang T đã tìm mua xe máy do trộm
cắp được mà có để bán kiếm lời. Quách Văn A do không có nhiều tiền để mua xe máy tay ga nên có nhờ Nguyễn Quang T tìm mua xe không có giấy tờ, xe do trộm cắp. Khoảng tháng 7/2017, bị cáo T đã mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode, số máy JA39E0232300, số khung 3903HY 232286 của Nguyễn Quang Đ ở thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội với giá 15.000.000 đồng rồi bán cho Quách Văn A với giá 16.500.000 đồng. Chiếc xe máy được đăng ký biển kiểm soát 20H1-165.62 của anh Nguyễn Văn H bị trộm cắp ngày 16/6/2017 tại xã Đ, thị xã P, tỉnh T có giá trị 35.000.000 đồng.
Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hình phạt:
Khi quyết định hình phạt, Tòa cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ
hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 15 tháng tù là có phần nghiêm khắc.
Xét thấy quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; tài sản đã được thu hồi trả bị hại, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, bố mẹ già yếu bị bệnh nặng. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vẫn đảm bảo giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự:
I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T.
II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 207/2022/HSST ngày 18/11/2022 của
Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự xử phạt bị cáo:
Nguyễn Quang T 12 tháng tù, thời hạn tù T từ ngày 11/6/2022.
Bị cáo Nguyễn Quang T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
2. Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS Tp Hà Nội; - TAND và VKS huyện S; - Chi cục THA DS huyện S; - Công an huyện S; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Phong |