vanban.org

Bản án 68/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Kim L. Bà Lê Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng Khánh Đ, sinh ngày 03/12/2017 cho bà Lê Kim L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Kim L. Bà Lê Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2023
Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Hoàng Huy

Bà Lê Thị Quyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Kim L, sinh năm: 1987 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Khánh H, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 6, xã Khánh L, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Lê Kim L trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn B tự nguyện làm đám cưới, chung sống với nhau năm 2017 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Sau khi chung sống vợ chồng có một con chung nhưng gần đây vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B không quan tâm cuộc sống gia đình, vợ chồng không tôn trọng nhường nhịn nhau nên nhiều lần cự cãi qua lại. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt không thể hàn gắn nên đã ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hoàng Khánh Đ, sinh ngày 03/12/2017 hiện con chung sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi con, bà yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Văn B đúng theo quy định pháp luật nhưng ông B không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Bà Lê Kim L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn B tranh chấp được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà L yêu cầu xin vắng mặt, ông B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà L, ông B theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Kim L và ông Nguyễn Văn B làm đám cưới chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào 2017 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà L và ông B là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Bà L yêu cầu ly hôn với ông B vì bà L xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B không quan tâm cuộc sống gia đình, vợ chồng không tôn trọng nhường nhịn nhau nên nhiều lần cự cãi qua lại. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt không thể hàn gắn nên đã ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông B để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông B không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà L và cũng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà L và ông B không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L ly hôn với ông B.

Về nuôi con chung: Bà Lê Kim L và ông Nguyễn Văn B có một con chung tên Nguyễn Hoàng Khánh Đ, sinh ngày 03/12/2017. Xét thấy, con chung đang do bà L nuôi dưỡng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông B để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông B cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con chung của bà L. Do đó, để đảm bảo quyền lợi con chung khi cha mẹ ly hôn Hội đồng xét xử giao con chung tên Nguyễn Hoàng Khánh Đ cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hoàng Khánh Đ mỗi tháng 1.000.000 đồng. Xét thấy, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông B nhưng ông B không có ý kiến gì đối với việc bà L yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Căn cứ vào điều luật đã viện dẫn Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà L. Buộc ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hoàng Khánh Đ mỗi tháng 1.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định không có không yêu cầu. Ông B không có ý kiến gì đối với việc bà L xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Kim L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83; 110; 116; 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Kim L. Bà Lê Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng Khánh Đ, sinh ngày 03/12/2017 cho bà Lê Kim L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hoàng Khánh Đ, sinh ngày 03/12/2017 mỗi tháng 1.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Đối với khoản tiền phải cấp dưỡng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Bà Lê Kim L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà Lê Kim L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010995 ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.

Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ