- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Xuân Quang - Nguyễn ngọc Thanh T ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Q.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29/9/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lộc.
Ông Trần Sóng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 307/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp 7, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Số 221Đ, ấp P, xã G, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Anh Q và chị T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 3 năm 2023, bản tự khai đề ngày 13/4/2023, biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - anh Nguyễn Xuân Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Q và chị T quen biết tìm hiểu nhau khoảng 07 tháng thì vợ chồng đi đến UBND xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2017. Đây là hôn nhân lần đầu của anh Q.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại tổ 2, ấp 7, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2019, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn xúc phạm nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn một phần do chị T không chung thủy trong quan hệ vợ chồng. Vào khoảng cuối năm 2019 mẹ ruột của anh Q nhiều lần nhìn thấy chị T đi với người đàn ông khác sau đó có kể sự việc trên cho anh Q nghe. Sau khi anh Q hỏi lại để xác minh sự việc thì chị T thừa nhận có quan hệ trên mức bạn bè với người đàn ông khác. Từ đó, do buồn chán chuyện vợ chồng nên anh Q thường xuyên uống rượu, nhậu nhẹt, bỏ bê gia đình. Vào tháng 10/2019 chị T tự ý bỏ về nhà cha mẹ đẻ chị T tại xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất để sinh sống.
Anh Q đã nhiều lần qua nhà chị T để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hai bên gia đình cũng đã ngồi lại nói chuyện với nhau mong muốn vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không có kết quả.
Vào các năm 2020 và 2023 anh Q đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất. Sau đó, Tòa án hòa giải và bản thân vẫn còn yêu thương vợ nên anh đã rút đơn ly hôn, nhưng mâu thuẫn vẫn không khắc phục được. Nay nhận thấy tình cảm không còn, anh Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc Thanh T.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 11/9/2018. Hiện cháu M đang sống cùng chị T tại ấp Phúc Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Khi ly hôn anh Q đồng ý giao cháu Mcho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện chị T làm công nhân, có chỗ ở và thu nhập ổn định để nuôi con. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Q xác định hiện tại chị T không có thai và không nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Ngọc Thanh T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn, bị đơn đều không đến tham dự phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn không có mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân Q được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc Thanh T.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 11/9/2018 cho chị Nguyễn Ngọc Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Xuân Q do chị T không có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Buộc anh Nguyễn Xuân Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn chị Nguyễn Ngọc Thanh T cư trú tại số 221Đ, ấp Phúc Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân Q và chị Nguyễn Ngọc Thanh T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân UBND xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2017 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Anh Nguyễn Xuân Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được khả năng đoàn tụ không có, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và chia sẻ với nhau công việc trong gia đình. Quá trình sống ly thân giữa anh chị cũng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau là có căn cứ phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại biên bản xác minh ngày 23/5/2023 của Toà án tại Công an xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất xác định: Khoảng tháng 10/2019 đến nay anh Q và chị T không còn sống chung nhà với nhau. Về mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng chính quyền địa phương không nắm được do các đương sự không trình báo và không yêu cầu chính quyền địa phương can thiệp hòa giải.
Qua xác minh tại Công an xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất cho biết chị T hiện vẫn thường xuyên sinh sống tại số 221Đ, ấp Phúc Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức Hòa giải để giúp anh chị có cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng chị T đều vắng mặt, cả chị T và anh Q đều không có ý thức hàn gắn hay có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra. Điều này cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của anh Q và chị T đã trầm trọng, kéo dài nhưng không có hướng khắc phục, tình cảm vợ chồng không có điều kiện để hàn gắn nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Theo anh Nguyễn Xuân Q xác định vợ chồng chung sống có một người con chung là cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 11/9/2018.
Xét yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Q, nhận thấy: Quá trình vợ chồng anh Q và chị T xảy ra mâu thuẫn phải sống ly thân, con chung sống cùng chị T, do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 11/9/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng: Tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Anh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Q.
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Xuân Q và chị Nguyễn Ngọc Thanh T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 11/9/2018 cho chị Nguyễn Ngọc Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh Nguyễn Xuân Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Ngọc Thanh T không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Xuân Q được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0009345 ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Anh Q đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- TAND T. Đồng Nai;
- VKSND H. Thống Nhất;
- Chi cục THADS H.Thống Nhất;
- UBND xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất; (Giấy CNKH số 157/2017).
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hoàng Thị Lan
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đỗ Thị Thùy Trang
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đỗ Thị Thùy Trang
]
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Các đương sự; - TAND T. Đồng Nai; - VKSND H. Thống Nhất; - Chi cục THADS H.Thống Nhất; - UBND P. Tăng Nhơn Phú A, quận 9, Tp.HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI Vào hồi ………. giờ ……… phút, ngày 29 tháng 3 năm 2018. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất,- tỉnh Đồng Nai. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Q Phúc Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Thơm 2. Bà Hà Thị Linh Thúy HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2017, về “Xin ly hôn”, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Vương Đồng Nai. 2. Bị đơn: Ông Lâm Q Tuấn Đồng Nai. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 1. Về điều luật áp dụng: 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. * Ý kiến của HTND - Thúy: Nhất trí với ý kiến của HTND - Thơm. của hai HTND. Hội đồng xét xử biểu quyết: 3/3 2. Về nội dung: * Ý kiến của HTND - Thúy: được ly hôn . - Về nuôi con chung: trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. - Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết. đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 002211 ngày 14/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. * Ý kiến của HTND Thơm: Nhất trí với ý kiến của HTND - Thúy. HTND. Hội đồng xét xử biểu quyết: 3/3 nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Q Phúc CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 200/2017/TLST- - sinh năm: 1985 Địa chỉ: số 123/T, ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh - sinh năm: 1986 Địa chỉ: số 123/T, ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả trông * Ý kiến của HTND Thơm: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều - Áp dụng Điều 8; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày * Ý kiến của Thẩm phán - chủ tọa: Về điều luật áp dụng, nhất trí với ý kiến - Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hồng Vương và ông Lâm Q Tuấn + Giao cháu Lâm Gia Hân - sinh ngày: 06/11/2011cho bà Vương tiếp tục + Ông Lâm Q Tuấn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mối tháng là Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi + Ông Tuấn được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi - Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Vương phải bàu 300.000đ (Ba trăm nghìn * Ý kiến của Thẩm phán - chủ tọa: Về nội dung, nhất trí với ý kiến của hai Nghị án kết thúc vào hồi ……… giờ ……. phút, ngày 29 tháng 3 năm 2018. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |