- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị H ly hôn Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06-7-2023. V/v: “Ly hôn giữa chị H và anh T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Bình.
Ông Trần Xuân Chỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 91/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H; Sinh năm: 1988(Vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Nơi ở: Xóm T, xã H, huyện N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn:Anh Nguyễn Văn T; Sinh năm: 1984(Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2023 và toàn bộ quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đoàn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn vào ngày 29/03/2010, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống và thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2010 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/10/2010 và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06/10/2012. Hiện hai con chung đang ở cùng anh T. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án cho chị được nuôi con chung Hồng Nhung còn anh T nuôi cháu Tuyên. Vợ chồng không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Trong trường hợp, anh T có nguyện vọng nuôi hai con và hai con có nguyện vọng ở cùng anh T thì chị nhất trí và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật nếu anh T có yêu cầu.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Đoàn Thị H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Tại bản tự khai ngày 12/6/2023, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh và chị Đoàn Thị H kết hôn vào ngày 29/3/2010, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, chị Hbỏ nhà đi anh không rõ lý do. Từ đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị Hxin ly hôn, anh đồng ý. Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/10/2010 và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06/10/2012. Hiện hai con chung đang ở cùng anh. Nay ly hôn, anh đề nghị được nuôi hai con yêu cầu chị Hcấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại chính quyền địa phương cho thấy: Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của chị Hvà anh T, UBND xã không nắm được do các đương sự nộp đơn tại Tòa án, địa phương không tổ chức hòa giải.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T. Về con chung:. Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/10/2010 và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06/10/2012. Chị Hcó nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị Hcó quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng. Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về việc kết hôn: Chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn vào ngày 29 tháng 3 năm 2010, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Anh chị có thời gian sống ly thân không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay chị Hxác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, anh T nhất trí. Vì vậy, cuộc hôn nhân giữa chị Hvà anh T nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/10/2010 và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06/10/2012. Hiện các con chung đang ở cùng anh. Trên cở sở xem xét yêu cầu của đương sự cũng như nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy: Cần giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/10/2010 và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06/10/2012. Chị Đoàn Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức là 1.800.000 đồng cho mỗi con chung, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động tự lập. Chị Hcó quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hoa, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung chưa thanh niên: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/10/2010 và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06/10/2012. Chị Đoàn Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức là 1.800.000 đồng cho mỗi con chung, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động tự lập. Chị Hcó quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0000523 ngày 01/6/2023. Chị Đoàn Thị H còn phải nộp 300.000 đồng.
4.Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị H và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Chi cục THA huyện Nam Trực; - UBND xã N; - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |