vanban.org

Bản án 68/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị H được ly hôn với ông Trần H1.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Đỗ Thị H được trực tiếp nuôi con chung tên Trần Thái T2 sinh ngày 08/11/2009 (N) đến đủ 18 tuổi. Ông Trần H1 không cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị H được ly hôn với ông Trần H1.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan– Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 43/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số E đường P, ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trần H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số E đường P, ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 21/3/2023 và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 23/6/2023 của nguyên đơn Đỗ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị H và ông Trần H1 là vợ chồng sống chung với nhau từ năm 2002 đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M. Vợ chồng chung sống hạnh phúc 18 năm, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cãi nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 02 người con chung tên Trần Thái T1 sinh năm 2004 đã trưởng thành, Trần Thái T2 sinh ngày 08/11/2009.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà Đỗ Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Trần H1.

-Về con chung: Trần Thái T1 sinh năm 2004 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của cháu Trần Thái T2, nếu cháu đồng ý sống chung bà H thì không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Nếu con sống chung ông H1 thì bà H không cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

Tại Tờ nguyện vọng ghi ngày 22/5/2023, cháu Trần Thái T2 trình bày khi cha mẹ không còn sống chung thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ, không yêu cầu cha cấp dưỡng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; bị đơn đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự và đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu được ly hôn ông Trần H1. Về con chung giao cháu Trần Thái T2 cho bà Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần H1 không cấp nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn bà Đỗ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần H1 đã được triệu tập hợp lệ theo đúng trình tự tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn với ông Trần H1, thấy rằng: Bà Đỗ Thị H và ông Trần H1 là vợ chồng sống chung với nhau từ năm 2002 đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 15/01/2010, tuy có đăng ký trễ hạn nhưng vẫn đúng quy định nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn đến làm việc và hòa giải nhưng bị đơn không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ bị đơn không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đỗ Thị H.

Về con chung: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của cháu Trần Thái T2, nếu cháu đồng ý sống chung bà H thì bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Nếu con sống chung ông H1 thì bà H không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Trần Thái T2 có nguyện vọng tiếp tục sống chung với mẹ là bà Đỗ Thị H, đồng thời hiện nay cháu T2 vẫn đang sống chung bà H và cháu có sức khỏe tốt, học hành bình thường. Do đó để đảm bảo quyền lợi của cháu T2, tiếp tục giao cháu Trần Thái T2 cho bà Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông Trần H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu. Trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà H có đủ điều kiện về kinh tế để đảm bảo nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đỗ Thị H trình bày không có, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//UBTVQH14 ngày 30/12/016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị H được ly hôn với ông Trần H1.

2. Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Đỗ Thị H được trực tiếp nuôi con chung tên Trần Thái T2 sinh ngày 08/11/2009 (N) đến đủ 18 tuổi. Ông Trần H1 không cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị H phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007434 ngày 12/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, bà Đỗ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ