vanban.org

Bản án 68/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn K “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. - phạm tội mua bán trái phép chất…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN
_____________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HSST
Ngày 24/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG – TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Tạ Minh Tiếp

+ Bà Nguyễn Thị Điệp

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/11/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/HSST ngày 13/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HS ngày 10/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn K;Giới tính: N; Sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lò Văn Đ, sinh năm 1954 (đã chết); Con bà: Nùng Thị Q, sinh năm 1956; Gia đình bị cáo có 2 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có;Tiền án, tiền sự: chưa có.

Nhân thân: Ngày 12/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. ngày 14/7/2019, chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị tạm giữ từ ngày 01/06/2022 đến ngày 04/06/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh H.

Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thế A – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.

Người làm chứng:

- Anh Vi Văn C, sinh năm: 1993

Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

-Anh Phạm Văn M, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Tổ dân phố T, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam.

* Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng

NHẬN THẤY:

Bị cáo Lò Văn K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, lực lượng CSĐT Công an huyện V tiến hành kiểm tra khu lán trại của nhà thầu HACC1, đang thi công xây dựng khu đô thị D, thuộc địa phận thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên trên, phát hiện, bắt quả tang Lò Văn K, sinh năm 1993, HKTT: Bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu đang bán trái phép chất ma túy cho Vi Văn C, sinh năm 1991, HKTT tại: Thôn K, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Khi bị phát hiện, C bỏ chạy và vứt đoạn ống hút bằng nhựa, màu xanh, kích thước (0,8x1,5)cm chứa chất màu trắng dạng cục và bột vừa mua của K xuống nền cát trước cửa khu lán trại, đã bị lực lượng CSĐT bắt giữ và thu giữ đoạn ống nhựa nêu trên, niêm phong ký hiệu M2. T tại bàn tay trái của K số tiền 190.000 đồng. T trong túi quần phía trước bên trái K đang mặc 01 túi nilon màu trắng có khóa bóp, kích thước (8,5x6)cm, bên trong đựng 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu vàng, kích thước (0,8x1,5), bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong ký hiệu M1. T tại giường ngủ của K: 01 chiếc hộp nhựa màu trắng cao 14,5cm, đường kính miệng 8,5cm, có nắp đậy màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng 35 đoạn ống hút bằng nhựa nhựa có kích thước và màu sắc khác nhau, bên trong không chứa gì.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã đưa K đi xét nghiệm chất ma túy, kết quả trong máu của K dương tính với chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 211/KL-KTHS(MT) ngày 04/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Chất dạng cục, bột màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1 (thu của K) có khối lượng 0,043 gam, là ma túy, loại Heroin; chất dạng cục, bột màu trắng trong niêm phong ký hiệu M2 (thu của C) có khối lượng là 0,055 gam, là ma túy, loại Heroin.

Quá trình điều tra xác định được: Kiểng thường xuyên sử dụng chất ma túy. Đầu tháng 4 năm 2022, K đến ở trọ tại lán trại HACC1 thuộc thôn A, xã N, huyện V để tìm việc làm trong khu đô thị D Để có tiền tiêu sài và sử dụng chất ma túy, vào các ngày: 23, 25, 27 và 31 tháng 5 năm 2022, K đã đến khu vực cây xăng số G thuộc địa bàn huyện Y, tỉnh Hưng Yên, mua ma túy, loại Heroin của một đối tượng nam giới (không biết tên, tuổi, địa chỉ), mang về lán trọ của mình chia nhỏ, cho vào các đoạn ống nhựa do K cắt ra từ các ống hút nước mía, mỗi đoạn dài khoảng 1 đến 2cm, rồi hơ lửa hàn kín 2 đầu ống lại (gọi là tép). Từ ngày 23 đến ngày 31/5/2022, tại lán trại nêu trên, K đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều công nhân làm việc trong công trường Vinhome Ocepark, được số tiền 3.000.000 đồng và đã tiêu sài hết. Trong đó xác định được, ngày 27/5/2022 K bán cho Vi Văn C 2 lần, mỗi lần 100.000 đồng và ngày 31/5/2022, Kiểng bán cho Vi Văn C 2 lần, mỗi lần 100.000 đồng ma túy; còn lại Kiểng không xác định được đã bán bao nhiêu lần, bán cho bao nhiêu người và không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người đã mua ma túy. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, K tiếp tục bán 01 tép ma túy cho một nam công nhân (không biết tên, tuổi, địa chỉ) được 100.000đ. Người này vừa đi khỏi thì C đến mua ma túy của K, C đưa cho K 90.000 đồng (gồm 1 tờ 50.000 đồng và 2 tờ 20.000 đồng); K cầm tiền, rồi lấy 01 tép ma túy từ túi quần phía trước bên trái ra đưa cho C thì bị lực lượng CSĐT Công an huyện V bắt quả tang. Khi bị bắt, trên tay của K đang cầm số tiền 190.000 đồng là tiền bán ma túy. Tép ma túy thu trong túi quần của K, K khai nhận là để sử dụng.

Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho K tại khu vực cây xăng G, huyện Y do không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh xử lý.

Hành vi tàng trữ 0,043 gam ma túy, loại Heroin để sử dụng và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K vào tháng 5 năm 2022, đã bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính.

Hành vi của Vi Văn C tàng trữ 0,055 gam ma túy loại Heroin (dưới 0,1 gam), chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi này.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSVG ngày 12/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện V truy tố bị cáo Lò Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đối với hành vi bán ma túy vào các ngày 23/5/2022, 25/5/2022,27/5/2022, 31/5/2022 cho những người công nhân được 3.000.000 đồng bị cáo không nhớ được chính xác, bị cáo chỉ nhớ ngày 27/5/2022 bán hai lần mỗi lần 100.000 đồng, ngày 31/5/2022 bán hai lần mỗi lần 100.000 đồng cho Vi Văn C thu được 400.000 đồng, bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và bản Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa có quan điểm xác định sự vắng mặt của những người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND huyện Văn Giang đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 01/6/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 211/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H. (Bên trong chứa 0,039 gam ma túy loại Heroine trong niêm phong ký hiệu M1 và 0,050 gam ma túy loại Heroine trong niêm phong ký hiệu M2; 01 vỏ túi nilon; 02 vỏ đoạn ống nhựa đựng ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định). 01 hộp nhựa màu trắng, nắp màu vàng bên trong có một túi nilon màu trắng, trong túi nilon chứa 35 đoạn ống nhựa có màu sắc và kích thước khác nhau. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 190.000 đồng, truy thu của bị cáo 400.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo K vắng mặt tại phiên tòa, trong bài bào chữa gửi cho Tòa án người bào chữa có ý kiến: VKSND huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các tình tiết giảm nhẹ VKSND huyện Văn Giang áp dụng đối với bị cáo đã đầy đủ, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất đại diện Viện kiểm sát đề xuất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX Tòa án nhân dân huyện Văn Giang nhận thấy như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, VKSND huyện Văn Giang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên toà: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đề nghị xét xử vắng mặt những người làm chứng trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra những người làm chứng đã có đầy đủ lời khai và việc vắng mặt họ tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo và quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo bị VKSND huyện Văn Giang truy tố:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với lời khai của chính bị cáo tại quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan , những người làm chứng trong vụ án; phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật và vật chứng được thu giữ; Kết luận giám định. Như vậy, HĐXX đã đủ căn cứ kết luận: Tại lán trại HACC1 thuộc thôn A, xã N, huyện V vào ngày 27/5/2022 K bán ma túy cho Vi Văn C 2 lần, mỗi lần 100.000 đồng, vào ngày 31/5/2022, K bán ma túy cho Vi Văn C 2 lần, mỗi lần 100.000 đồng. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, K tiếp tục thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại H cùng một lúc cho hai người trong đó có một đối tượng không xác định nhân thân, lý lịch được 100.000 đồng và Vi Văn C được 90.000 đồng thì bị Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi bán ma túy cho Vi Văn C và một người không xác định được nhân thân lai lịch. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của VKSND huyện Văn Giang là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hành vi của bị cáo còn hủy hoại sức khỏe, trí lực của con người, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, cần phải xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, vai trò, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc mua bán trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn muốn có tiền nhanh mà không mất sức lao động bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán ma túy thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật cố ý phạm tội rất nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung cho mọi người. [4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo trước khi bị bắt, bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản tích lũy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 0,039 gam ma túy, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1 và 0,050 gam ma túy, Heroin trong niêm phong ký hiệu M2, 01 vỏ túi nilon, 02 vỏ đoạn ống nhựa đựng ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 211/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H; 01 hộp nhựa đựng 35 mẩu ống hút là chất nhà nước cấm lưu hành và đồ vật không có giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngoài lần bán ma túy trái phép bị bắt quả tang, có căn cứ xác định bị cáo có 4 lần bán trái phép chất ma túy cho Vi Văn C được 400.000 đồng, vì vậy sẽ truy thu 400.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Những đối tượng khác mua ma túy của bị cáo K, bị cáo không quen biết, không biết nhân thân, lý lịch của những người này. Do bị cáo thay đổi lời khai không đủ căn cứ để xác định các lần bị cáo bán ma túy cho những người khác, nên không xử lý truy thu số tiền còn lại. [6] Về án phí: Gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn nộp án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điều 12; điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ :

- Điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điều 12; Điều 14 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2]. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[3]. Xử phạt:

Bị cáo Lò Văn K 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/6/2022.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu cho tiêu hủy: 0,039 gam ma túy, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1 và 0,050 gam ma túy Heroin trong niêm phong ký hiệu M2, 01 vỏ túi nilon, 02 vỏ đoạn ống nhựa đựng ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 211/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H; 01 hộp nhựa màu trắng, nắp vàng bên trong có một túi nilon màu trắng, trong túi nilon chứa 35 đọan ống nhựa có màu sắc và kích thước khác nhau.

Truy thu của bị cáo Lò Văn K 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu 190.000 đồng ( một trăm chín mươi nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

(Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Giang ngày 27/10/2022).

[6]. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn K.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ