vanban.org

Bản án 68/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn M 15 (mười lăm) tháng t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, t nh từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lương Văn M cho UBND xã C huyện C, tỉnh Khánh Hòa là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn M phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 68/2022/HS-ST
Ngày: 06-12-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Hồ Xuân Dũng

2/ Ông Lê Minh Chiến

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2022/TLST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1830/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Lƣơng Văn M; Sinh ngày: 02/12/1971 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Khánh H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương N, sinh năm 1943 và bà Lê Thị H, sinh năm 1956; vợ: Đặng Thị N, sinh năm 1980, con: có 03 người, lớn nhất sinh năm: 1997, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

* Người bị hại: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1938 (chết)

* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Đình H: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; trú tại: KV. H, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn dân sự: Ông Hoàng Đình Anh L, sinh năm: 1978; trú tại: thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 01/3/2022, Lương Văn M (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 79C – 055.97 do chị h ng Thị Thanh L làm chủ sở h u chở viên g nén đi từ tỉnh Khánh Hòa đến giao cho Công ty An Việt hát thuộc khu công nghiệp Long M , xã , thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi giao hàng xong, M tiếp tục điều khiển xe ô tô đến Công ty Năm Sao thuộc khu công nghiệp Nhơn Hòa, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định để chở thức ăn chăn nuôi về lại tỉnh Khánh Hòa. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến khu vực ngã ba giao nhau gi a đường Quốc lộ 19 với đường B thuộc khu vực T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, Mcho xe chạy với tốc độ khoảng 20-30km/h, theo hướng Đông – Tây (nơi có đặt biển báo giao nhau với đường không ưu tiên), thì phát hiện ph a trước cách khoảng 10 – 15m, ông Nguyễn Đình H đang điều khiển xe đạp qua đường theo hướng Nam – Bắc. Thấy vậy, Mận bóp còi báo hiệu nhưng gi nguyên tốc độ cho xe chạy tới. Đến khi ông Hòa đã sang ph n đường bên phải theo hướng Đông – Tây thì Mận mới đạp phanh gấp, nhưng không kịp, đã để ph a trước bên trái đ u xe ô tô do mình điều khiển tông vào bên phải ba ga sau xe đạp do ông Hòa điều khiển xảy ra tai nạn. Hậu quả: ông Nguyễn Đình Hòa bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu, đến ngày 02/3/2022 tử vong.

Vụ tai nạn giao thông có biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh kèm theo.

Ngày 11/3/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định có Bản giám định pháp y về tử thi số 66/2022/PY-TT kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đình H: Chấn thương sọ não chảy máu nội sọ lan tỏa hai bán cầu điều trị không hồi phục.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô biển kiểm soát tải biển kiểm soát 79C – 055.97, 01 giấy phép đăng ký và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 79C – 055.97, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở h u.

- 01 xe đạp màu nâu (bị hư hỏng do tai nạn) đã trả lại cho đại diện gia đình nạn nhân.

- 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lương Văn M, hiện được lưu gi cùng hồ sơ vụ án.

- 01 thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu Micro SD ADATA, dung lượng 1GB chứa 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ tai nạn, hiện được lưu gi cùng hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Lương Văn Mận c ng chủ xe ô tô đã bồi thường cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và xin không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKSAN ngày 18/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn M từ 12 đến 18 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng

Về phần dân sự: Bị cáo Lương Văn M đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại không có yêu c u bồi thường gì khác, nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu Micro SD ADATA, dung lượng 1GB chứa 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ tai nạn

- Hoàn trả 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lương Văn M cho bị cáo Lương Văn M

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 17 giờ ngày 01/3/2022, tại đoạn ngã ba giao nhau gi a đường Quốc lộ 19 với đường Biên Cương, Lương Văn M có giấy phép lái xe hợp lệ, đã trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 79C – 055.97, với tốc độ 20 - 30 km/h, theo hướng Đông – Tây, mặc d đã phát hiện ph a trước cách khoảng 10 – 15m có ông Nguyễn Đình H đang điều khiển xe đạp qua đường theo hướng Nam – Bắc, nhưng M đã không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn, nên đã để ph a trước bên trái đ u xe ô tô do mình điều khiển tông vào bên phải ba ga sau xe đạp do ông Hòa điều khiển. Hậu quả ông Nguyễn Đình H tử vong. Hành vi của Lương Văn M là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Nên đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lương Văn M phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Lương Văn M là nguy hiểm và nghiêm trọng không nh ng trực tiếp gây ra cái chết cho ông H, gây ra n i đau mất mát cho gia đình nạn nhân mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Bị cáo phát hiện ông H khoảng cách 10-15m nhưng đã không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn đã gây ra tai nạn làm ông H tử vong. Do đó, c n xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Trong vụ án này người bị hại cũng có một ph n l i là người già yếu 84 tuổi qua đường không có người dẫn dắt, không đảm bảo an toàn.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền 50.000.000đ và đã được đại diện gia đình bị hại bãi bại về trách nhiệm dân sự và có một ph n l i của người bị hại. Đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu Micro SD ADATA, dung lượng 1GB chứa 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ tai nạn.

- Hoàn trả 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lương Văn M cho bị cáo Lương Văn M.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Văn M phải chịu 200.000đ theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Vì nh ng lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt bị cáo Lương Văn M 15 (mười lăm) tháng t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, t nh từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lương Văn M cho UBND xã C huyện C, tỉnh Khánh Hòa là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Lương Văn M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lương Văn M cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo M phải chấp hành hình phạt tù của bản án.

4. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, nên miễn xét.

5. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu Micro SD ADATA, dung lượng 1GB chứa 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ tai nạn.

- Hoàn trả 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lương Văn M cho bị cáo Lương Văn M.

6. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

7. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị đơn dân sự nếu không đồng ý một ph n hoặc toàn bộ bản án có quyền kháng cáo lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ