- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị H và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tu ên ố các bị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S phạm tội “Mua án trái phép chất ma tú ”.
- Căn cứ chính? Điều 7 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2022/HS-ST Ngày 23-12-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Tiến Khoa;
2. Ông Tô Đình Cam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Ấu Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/12/2022, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2022/TLST-HS ngày 30/11/2022 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 74 2 22 QĐXXST-HS ngà 8 2 2 22 đối v i các ị cáo:
1. Vũ Thị H, sinh ngà 28 tháng 3 năm 988, tại hu ện Đ, tỉnh Thái Bình; nơi ĐKNKTT: T 4, thôn M, thị trấn V, hu ện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: T 4, thôn M, thị trấn V, hu ện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9 2; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn H và à Phạm Thị H (đều đã chết); có chồng là Ngu ễn Văn C, sinh năm 98 (đã l thân); có 6 con, con l n sinh năm 2 6, con nhỏ sinh năm 2 2 ; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 3 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 13/2016/HS-ST, ngày 30/3/2016, (đã được xoá án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngà 27 4 2 22 đến ngà 5 5 2 22 đư c áp dụng iện pháp ngăn ch n Cấm đi khỏi nơi cư trú; có m t.
2. Trịnh Đình S, sinh ngà 7 tháng 2 năm 979, tại hu ện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: T 4, thôn M, thị trấn V, hu ện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9 2; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Trọng T, sinh năm 952 và à Trịnh Thị D, sinh năm 954; có con sinh năm 2 2 ; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bị TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tại Bản án số 06/2007/HS-ST ngày 26/12/2007 (Đã được xoá án tích); TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tú tại Bản án số 17/2013/HS-ST ngày 11/4/2013 (đã được xoá án tích).
Bị cáo ị ắt tạm giam ngà 26 4 2 22; hiện na đang ị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hà Giang; có m t.
- Ngư i có quyền lợi liên quan:
1. Bà Trịnh Bích H, sinh năm 975, SĐT: 9 2.228.5 ; địa chỉ: T 12, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; có m t.
2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 984; địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Hà Giang; vắng m t.
- Ngư i làm chứng:
1. Anh Nguyễn Mạnh H,
2. Ông Nguyễn Công T,
3. Anh Nguyễn Văn C,
4. Anh Dương Quang H. Có m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Ngày 23/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang nhận đư c nguồn tin tố giác về tội phạm của ông Đ ng Thế T, trú tại t 2, phường T, thành phố H, v i nội dung: Tố giác đối tư ng Trịnh Đình S, sinh năm 979 và Vũ Thị H, sinh năm 988, cùng trú tại: Thôn M, thị trấn V, hu ện B, tỉnh Hà Giang có hành vi Mua bán trái phép chất ma tú cho các đối tư ng nghiện trên địa bàn các huyện B, Q, V, thành phố H gâ ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Sau khi tiếp nhận tin áo, Cơ quan CSĐT (PC 4) Công an tỉnh đã tiến hành xác minh, làm rõ.
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 26/4/2022, t công tác Phòng PC04 Công an tỉnh phối h p v i Công an xã P, thành phố H làm nhiệm vụ tại khu vực ch P, thuộc thôn C, xã P, thành phố H, phát hiện đối tư ng Nguyễn Mạnh H, sinh năm 982, trú tại khu Q, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Công T, sinh năm 1976, trú tại t 2, thị trấn Y, hu ện B, tỉnh Hà Giang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm: 01 vỏ ống xilanh nhựa, loại 03 ml; 01 vỏ ống thuốc tiêm NOVOCAIN; 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc, tất cả đã qua sử dụng. T công tác đã lập biên bản vụ việc và đưa đối tư ng về trụ sở Công an xã P, thành phố H để làm rõ.
Xét nghiệm chất ma tú đối v i Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Công T đều cho kết quả dương tính v i ma túy nhóm ma túy MOP (mocphine/Heroine), H, T thừa nhận bản thân là người nghiện và vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Heroine).
Qua đấu tranh khai thác các đối tư ng khai nhận: Vào ngà 25 4 2 22, T đi xe khách từ huyện B xuống nhà H tại Khu Q, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Phú Thọ chơi. Đến sáng ngà 26 4 2 22, H và T cùng nhau đi xe khách từ Phú Thọ lên thành phố H, khi đến khu vực c ng chào giáp ranh giữa 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang thì cả 2 xuống xe đ i Nguyễn Văn C - sinh năm 987 ở khu Q, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ (bạn của H) là lái xe Taxi đến đón đưa lên Hà Giang. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, H gọi điện thoại cho Vũ Thị H, sinh năm 988, trú tại thôn M, thị trấn V, hu ện B hỏi mua ma túy (Heroine) v i số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). H đồng ý án và ảo H khi nào đi đến khu vực ngã ba P (thuộc tổ 11, TT. V, huyện B) thì gọi điện lại cho H. Sau đó C lái xe Taxi BKS 30E-xxxx đến đón H và T để tiếp tục đi xe lên thành phố H. Khi trên xe H nói v i T là vừa gọi điện cho H nhà ở đường đi vào hồ Q hỏi mua đư c ma túy (Heroine) v i số tiền 5. . đ (Năm triệu đồng) H đã đồng ý bán và bảo đã hẹn đến khu vực ngã a P để trao đ i mua bán, H rủ T góp tiền mua ma tú để cùng nhau sử dụng. T đồng ý và đưa cho H 2.5 . đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), để góp v i tiền của H đư c 5.000.000đ (Năm triệu đồng), số tiền này H cầm. Khi xe đi đến cách ngã ba P khoảng 100m, H bảo C dừng xe lại, rồi H xuống xe tiếp tục gọi điện cho Vũ Thị H để hỏi mua ma túy thì có Trịnh Đình S (đang ở cùng H) nghe máy, H nói: “Anh đến nơi rồi”, S trả lời “Ừ đợi tý”. Khoảng 10 phút sau, H thấy S điều khiển xe máy, BKS: 23-D1 xxxx đến dừng trư c đầu xe taxi. Tại đâ H đưa cho S số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), S đưa lại cho H 01 gói ma túy (Heroine) đư c đựng trong túi nilon bên ngoài cuốn bằng ăng keo. Khi 2 người trao đ i mua bán v i nhau ở phía đầu xe T và C (lái xe taxi) ngồi trong xe nhìn rõ và chứng kiến toàn bộ quá trình trao đ i mua bán ma túy giữa H và S. Sau khi mua đư c H cầm gói ma túy vào xe rồi bảo C tiếp tục lái xe lên thành phố H. Trên xe H đưa gói ma tú cho T xem sau đó cất vào túi quần đang m c. Khi đến thành phố H, H ảo C đỗ xe ở khu vực phía sau bến xe khách H và rủ T xuống xe rồi cùng nhau đi ộ đến khu vực nhà vệ sinh của ch P (phía sau bến xe khách H), H lấy gói ma túy ra chia cho T một phần để T sử dụng, H cũng lấy một phần để sử dụng, số còn lại H cất vào túi quần. Khi vừa sử dụng xong, H thấy có lực lư ng Công an đến do s bị phát hiện H đã lấy gói ma túy còn lại ở túi quần ra, thả vào bồn vệ sinh rồi xả nư c. Cơ quan Công an lập biên bản vi phạm hành chính hành vi Sử dụng trái phép chất ma tú đối v i H và T, thu giữ vật chứng liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh H khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy, quen biết Vũ Thị H và Trịnh Đình S từ đầu năm 2 22. Biết H có ma tú án và đã nhiều lần mua đư c ma túy của H để sử dụng. Hình thức giao dịch mua án là thông qua điện thoại thống nhất số lư ng, giá cả rồi hẹn địa điểm để giao dịch mua bán. Cụ thể ngoài lần mua ma túy của H và S ngày 26/4/2022 nói trên, trong tháng 3 2 22 và tháng 4 2 22, H đã 2 lần trực tiếp mua đư c ma túy của H, mỗi lần mua một gói ma túy trị giá 5. . đ (Năm triệu đồng) địa điểm giao dịch mua bán là khu vực ngã ba P (thuộc tổ 11, TT. V, huyện B). Toàn bộ ma tú khi mua đư c Nguyễn Mạnh H đem về nhà để sử dụng hết cho bản thân.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập đư c và kết quả xác minh tại thôn M, thị trấn V, hu ện B, xác định Trịnh Đình S có hành vi Mua án trái phép chất ma tú . Ngà 26 4 2 22, Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) ra Lệnh giữ người trong trường h p khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở đối v i Trịnh Đình S tại thôn M, thị trấn V, hu ện B. Khi T công tác tiếp cận thi hành Lệnh thì Trịnh Đình S đang ngồi trên xe má , Vũ Thị H đang khóa cửa nhà để cùng nhau đi ra ngoài, phát hiện thấy t công tác nên Vũ Thị H đã có hành vi ném 01 gói nilon ra cạnh hiên nhà (Phía bên phải nhìn từ ngoài vào), t công tác đã kiểm tra, thu giữ và tiến hành đấu tranh khai thác, H khai nhận chính là người đã vứt gói nilon bên trong có chứa chất ma túy ra bên cạnh hiên nhà, H mang theo gói ma túy trên mục đích là để bán cho một khách vừa đ t mua. T công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật. Thi hành Lệnh khám xét nơi ở của Trịnh Đình S và Vũ Thị H. Kết quả phát hiện và thu giữ: cân điện tử ký hiệu DigitalScale màu đen, kích thư c (4 x7 x 1) cm; 03 điện thoại di động; 01 thẻ VIETTEPAY; 01 thẻ ngân hàng Agri ank mang tên Vũ Thị Hồng; 01 xe máy (kèm chìa khóa thông minh) biển kiểm soát: 23D1 - 407.98, số loại: VISION, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: Vàng nâu, số máy: JF86E0463857, số khung: RLHJF583 LY556323, không gương chiếu hậu, đã qua sử dụng, tạm giữ số tiền 12.650.000đ (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng);
Ngày 27/4/2022, Cơ quan CSĐT (PC 4) Công an tỉnh Hà Giang tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lư ng và gửi mẫu trưng cầu giám định tại Phòng PC09 Công an tỉnh Hà Giang đối v i tang vật đã thu giữ. Kết quả cân tịnh: Chất bột màu trắng dạng cục có khối lư ng 4,82 gam (Bốn phẩy tám mươi hai gam). Tiến hành niêm phong và ký hiệu mẫu gửi giám định là A1.
Ngà 28 4 2 22, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã Quyết định trưng cầu giám định số 55 QĐ-CSMT, kèm mẫu gửi giám định A trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, giám định chất ma túy.
Kết luận giám định số 164/KL-KTHS, ngày 30/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận mẫu chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroine, có khối lư ng là 4,82g (bốn phảy tám mươi hai gam).
Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Về nguồn gốc chất ma tú có để sử dụng và án Vũ Thị H khai nhận: Thông qua những người nghiện H xin đư c số điện thoại của một người đàn ông án ma tú , H đã liên hệ và nhiều lần mua đư c ma túy của người này. Tuy nhiên, H không biết tên, địa chỉ mà chỉ biết là người ở khu vực xã X, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Lần gần nhất mua đư c ma túy của người đàn ông nà là vào chiều ngà 25 4 2 22, Vũ Thị H trực tiếp liên hệ qua điện thoại v i người đàn ông ở X hỏi mua 03 (ba) chỉ Heroine, sau khi thống nhất giá 3.500.000đ/01 chỉ, t ng cộng là .5 . đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng), người bán yêu cầu H đem tiền đi vào X, việc giao dịch mua bán ma túy sẽ thực hiện theo chỉ dẫn của người đàn ông nà . Sau đó H đi xe má vào xã X, khi đến nơi H gọi điện và đư c người đàn ông hư ng dẫn giấu tiền ở chân cột mốc số 5 rồi yêu cầu H không đư c đứng gần chỗ giấu tiền, một lúc sau (khi người bán nhận được đủ tiền) H nhận đư c điện thoại hư ng dẫn đi đến cột mốc số 3 để lấ ma tú đang giấu ở chân cột mốc. H làm theo và đã mua đư c khoảng 03 chỉ ma túy (Heroine) v i số tiền .5 . đồng. H khẳng định chưa g p m t người bán ma túy cho H lần nào. Số ma tuý nà khi đem về nhà H đã đưa Sơn một phần để sử dụng, số còn lại H cất giấu để bán cho những người nghiện có nhu cầu, Cụ thể:
Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 26/4/2022, H nhận đư c điện thoại của Nguyễn Mạnh H, sinh năm 982, trú tại khu Q, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Phú Thọ hỏi mua 5. . đồng ma tú (Heroine), H đồng ý bán và hẹn H cứ lên đến ngã ba P thì gọi lại cho H. Đến khoảng 9 giờ 30 phút, cùng ngày H gọi điện đến thì Trịnh Đình S nghe điện, sau đó S nói v i H có khách lấy 5. . đồng đang đ i ngoài P. H biết là H đang đ i mua ma túy nên lấy số ma tú mua đư c ngày 25/4/2022 ra, lấy một phần (khoảng 1 chỉ), đem gói lại cẩn thận rồi đưa cho Trịnh Đình S và ảo mang gói ma tú đi giao cho khách đang đ i ở ngã ba P, H d n S thu cho H số tiền 5. . đồng, Trịnh Đình S đồng ý và đã cầm gói ma túy rồi đi xe má Vision, iển kiểm soát: 23-D1- 407.98 ra ngã ba P g p và giao cho H gói ma tú rồi nhận số tiền 5. . đồng và qua về nhà đưa cho H số tiền thu đư c do bán ma tú cho H nhưng H không cầm mà ảo S cứ cầm lấy.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H tiếp tục nhận đư c điện thoại của Nguyễn Mạnh H gọi đến hỏi mua ma túy (Heroine) v i số tiền . . đồng. H đồng ý bán và hẹn g p H ở ngã a P để trao đ i mua án. Sau đó H lấy toàn bộ số ma túy còn lại (khoảng gần 2 chỉ) gói lại cẩn thận đút vào túi quần đang m c để đi giao ma tú . Thấ S dắt xe má H có hỏi đi đâu thì S ảo đi đón con, H nói v i S là đi cùng H một tý, có khách lấy 10 triệu xong về đón con nhưng S không để ý mà dắt xe ra trư c, khi H từ trong nhà đi ra có mang theo gói ma túy mục đích để đi giao cho H thì phát hiện sự có m t của Cơ quan điều tra tại nhà S, H đã lấy gói ma túy giấu trong túi quần đang m c ra vứt sang khu đất trống phía ên trái trư c cửa nhà của S và H. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ tang vật, H thừa nhận gói ma tú đó H mang đi nhằm mục đích án cho Nguyễn Mạnh H để lấ . . đồng theo thỏa thuận. Quá trình điều tra Vũ Thị H còn thừa nhận do quen biết Nguyễn Mạnh H, biết H nghiện ma tú trư c đó và H đã án cho cho H 2 lần, mỗi lần 01 gói ma túy trị giá 5. . đồng thời gian vào tháng 3/2022 và một lần vào tháng 4 2 22 nhưng không nh ngày cụ thể.
Cáo trạng số 35/CT-VKSHG-P1 ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Vũ Thị H về tội “Mua án trái phép chất ma tú ” qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Đình S về tội “Mua án trái phép chất ma tú ” qu định tại khoản Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, các bị cáo trình bày: Vũ Thị H và Trịnh Đình S đã chung sống v i nhau như v chồng; do Trịnh Đình S là người nghiện ma tú nên để có ma tú sử dụng Vũ Thị H mua ma tú về án cho các đối tư ng nghiện kiếm lời và cho Trịnh Đình S sử dụng. Sáng ngà 26 4 2 22, Trịnh Đình S đã cầm ma tuý đi xe má , VISION iển kiểm soát 23D1xxxxx ra ngã a P giao cho H ở ngã a P theo sự hư ng dẫn của H và nhận số tiền 5. . đồng từ H. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, H lấy toàn bộ số ma túy còn lại (khoảng gần 2 chỉ) gói lại cẩn thận đút vào túi quần đang m c để đi giao ma tú cho H theo thoả thuận v i giá . . đ thì phát hiện sự có m t của Công an nên H đã lấy gói ma túy giấu trong túi quần đang m c ra vứt sang khu đất trống phía ên trái trư c cửa nhà của S và H và đã ị Công an thu giữ. Ngoài ra, Vũ Thị H còn thừa nhận đã án cho H 2 lần ma tuý, mỗi lần 01 gói ma túy trị giá 5. . đồng thời gian vào tháng 3/2022 và một lần vào tháng 4 2 22 nhưng không nh ngày.
Bị cáo H nhất trí v i Kết luận giám định ma túy thu giữ do bị cáo H vứt sang khu đất trống phía ên trái trư c cửa nhà của S và H, Công an đã thu giữ đư c là ma túy Heroine có khối lư ng 4,82g. Các bị cáo xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo về tội “Mua án trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.
Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan, bà Trịnh Bích H trình bày: Số tiền 2.65 . đ, Cơ quan CSĐT thu giữ của bị cáo S là do à cho S va để đi về quê ăn giỗ ông ngoại; à đề nghị HĐXX xem xét trả lại số tiền trên cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa đã đưa ra các chứng cứ, tài liệu luận tội các bị cáo và giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố; phân tích về ngu ên nhân, động cơ phạm tội, tính chất của vụ án; đánh giá vai trò tham gia thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối v i từng bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản Điều 7, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 8 năm đến 9 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 7, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Đình S từ 4 năm đến 5 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
- Không áp dụng hình phạt b sung đối v i các bị cáo theo qu định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Đối v i các vật chứng các bị cáo sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng và vật chứng Nhà nư c cấm tàng trữ lưu hành.
- Tuyên tịch thu và tru thu sung ngân sách Nhà nư c các phương tiện, đồ vật, tiền các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- Tuyên trả lại cho bà Trịnh Bích H số tiền 2.65 . đ.
4. Án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qu định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủ an Thường vụ Quốc Hội.
Phần tranh luận: Các bị cáo, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan nhất trí v i luận tội và quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình; đề nghị xét xử các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo đư c hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục theo qu định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ị cáo, người liên quan không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, qu ết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, qu ết định tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Về tội danh và định khung hình phạt: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các ị cáo phù h p v i Biên bản vụ việc, Biên bản khám xét, Biên ản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập đư c có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngà 26 4 2 22, ị cáo Vũ Thị H đã có hành vi giao ma túy cho bị cáo Trình Đình S đem án cho Ngu ễn Mạnh H, sinh năm 982, trú tại khu Q, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Phú Thọ tại ngã a P (thuộc địa phận thị trấn V huyện
à iang). Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo H tiếp tục nhận đư c điện thoại của Nguyễn Mạnh H gọi đến hỏi mua ma túy (Heroine) v i số tiền . . đồng. Khi H mang theo gói ma tú chuẩn bị đi giao cho H thì ị lực lư ng Công an phát hiện bắt và thu giữ 01 gói nilon cạnh hiên nhà (Phía bên phải nhìn từ ngoài vào). Kết quả cân tịnh: Chất bột màu trắng dạng cục có khối lư ng 4,82 gam; tiến hành niêm phong và ký hiệu mẫu gửi giám định là A1. Kết luận số 164/KL-KTHS, ngày 30/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận mẫu chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroine, có khối lư ng là 4,82g (bốn phảy tám mươi hai gam); Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Về nguồn gốc chất ma túy bị cáo H có để án cho các đối tư ng ngoài xã hội và đưa cho S sử dụng là do H đã liên hệ và nhiều lần mua đư c ma túy của người này; tuy nhiên, H không biết tên, địa chỉ mà chỉ biết là người ở khu vực xã X, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Các ị cáo đều là những người có đầ đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng ị Toà án xét xử phạm tội về Tàng trữ trái phép chất ma tuý; nhận thức đư c hành vi mua bán trái phép chất ma tú là vi phạm pháp luật và tác hại của ma tuý ảnh hưởng rất l n đến sức khỏe, đời sống của người mắc nghiện và của các gia đình có người nghiện, là ngu ên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, Nhà nư c nghiêm cấm mọi hành vi mua án, vận chu ển, tàng trữ trái phép chất ma tuý... ai vi phạm sẽ ị xử lý nghiêm minh trư c pháp luật; song v i động cơ, mục đích do l i ích kinh tế để muốn có l i nhuận cao từ việc mua án trái phép chất ma tuý và nhu cầu sử dụng ma tuý của ản thân, các ị cáo ất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật; ị cáo S đã thực hiện hành vi mua án trái phép chất ma tuý cùng v i ị cáo H lần; ị cáo H thực hiện hành vi mua án trái phép chất ma tuý nhiều lần. Hành vi của các ị cáo là ngu hiểm cho xã hội, thực hiện v i lỗi cố ý trực tiếp; xâm phạm đến chính sách độc qu ền quản lý của Nhà nư c về các chất ma tú ; gâ mất trật tự trị an tại địa phương. Có đủ căn cứ kết luận, ị cáo Vũ Thị H phạm tội “Mua án trái phép chất ma tú ” v i tình tiết định khung tăng n ng hình phạt qu định tại điểm khoản 2 Điều 25 Bộ luật Hình sự “ Phạm tội từ hai lần trở lên”, có khung hình phạt tù từ 7 năm đến 5 năm, thuộc trường h p rất nghiêm trọng; ị cáo Trịnh Đình S phạm tội “Mua án trái phép chất ma tú ” qu định tại khoản Điều 25 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, thuộc trường h p nghiêm trọng.
Vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo H là người chủ mưu, trực tiếp mua ma tuý về án cho các đối tư ng khác ngoài xã hội để kiếm lời và phục vụ cho bản thân bị cáo và Trịnh Đình S, đư c xác định giữ vai trò chính trong vụ án và phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Bị cáo S v i vai trò đồng phạm giúp bị cáo H trong việc cầm ma tuý đi giao cho H và nhận tiền từ H đem về cho H; do đó ị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng v i hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện; cần áp dụng khoản Điều 7, Điều 58 Bộ luật hình sự về đồng phạm và quyết định hình phạt trong trường h p đồng phạm đối v i các bị cáo.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H đã tích cực phối h p v i Cơ quan điều tra trong việc triệt phá đư c 2 điểm bán lẻ ma tuý trên địa bàn huyện B là tình tiết giảm nhẹ qu định tại điểm t khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Bị cáo Vũ Thị H, năm 2 6, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 3 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; ị cáo Trịnh Đình Sơn năm 2 7, bị TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, năm 2 3 ị TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; tuy các bị cáo đã đư c xoá án tích, nhưng các ị cáo không lấ đó làm ài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân để sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; cần áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự về tù có thời hạn và căn cứ quyết định hình phạt, xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc phù h p v i tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và bảo đảm tính răn đe riêng đối v i các bị cáo và phòng ngừa chung đối v i loại tội phạm này tại địa phương.
Về hình phạt sung: Tại khoản 5 Điều 25 Bộ luật Hình sự qu định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng cấm đảm nhiệm chức vụ cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Các ị cáo có động cơ, mục đích mua ma tuý về để án kiếm lời và sử dụng, cần áp dụng hình phạt tiền đối v i các ị cáo để đảm ảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã thu giữ nhiều vật chứng, đồ vật; xét thấ , một số vật chứng không liên quan đến vụ án; ngà 28 2 22, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã ra Qu ết định xử lý vật chứng số 2 QĐ-CSMT, bằng hình
(1)
thức trả lại cho chủ sở hữu, cụ thể: Trả lại cho à Nguyễn Thị X, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Hà Giang (người được ủy quyền): 01 xe máy, biển kiểm soát: 23-D1- 407.98, số loại: VISION, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: Vàng nâu, số máy: JF86E0463857, số khung: RLHJF5831LY556323, không gương; kèm theo chìa khóa của xe, đã qua sử dụng.(2) Trả lại cho ị cáo Vũ Thị H, sinh năm 988, trú tại thôn M, huyện B, tỉnh Hà Giang 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, m t sau màu xanh đen có chữ OPPO, ốp lưng ằng nhựa m t sau màu trắng có in hình hoa văn, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn cảm ứng, viền m t trư c màu trắng, m t sau màu vàng nâu có chữ IPhone, đã qua sử dụng; 01 thẻ VIETTEPAY; 01 thẻ ngân hàng Agribank cùng mang tên Vũ Thị H. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì đối v i tài sản, tang vật Cơ quan CSĐT Công an tỉnh trả lại. Do đó, HĐXX không xem xét.
[ ] Đối v i vật chứng, đồ vật chuyển sang Cục Thi hành án dân sự và Kho bạc Nhà nư c, tỉnh Hà Giang liên quan đến hành vi phạm tội; cần áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự để xử lý vật chứng như sau:
1. Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nư c đối v i vật chứng: 01 (một) điện thoại di động loại àn phím, màu đen, m t trư c, sau có chữ NOKIA, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, màu đen, m t trư c, sau có chữ NOKIA, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo S, H.
2. Tuyên tịch thu tiêu huỷ vật chứng, đồ vật không còn giá trị sử dụng: 01 (một) vỏ ống xilanh nhựa, loại 3 ccml, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ ống nư c cất NOVOCAIN, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) mảnh giấy bạc, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ coóng bằng thủy tinh, có cắm ống hút bằng nhựa, đã qua sử dụng; 01(một) cân điện tử, ký hiệu Digital Scale, màu đen, kích thư c (4x7x ) cm, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong kín, m t trư c phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1”, m t sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01(một) phong bì màu trắng niêm phong kín, m t trư c ghi “Vụ Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 26/4/2022, Vỏ bao bì niêm phong cũ: 01 túi niêm phong chuyên dụng cũ; 02 túi nilon 01 túi nilon màu trắng xanh, 02 dây cao su, băng dính màu đen”; m t sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong.
3. Về số tiền 12.650.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Sơn đều khai nhận vay của chị gái là Trịnh Bích H; xét thấy, số tiền nà không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo đề nghị trả lại cho chị H là có căn cứ.
4. Đối v i số tiền 5. . đ, ị cáo Sơn có đư c là do bị cáo H đưa ma tuý cho S giao cho H tại ngã ba P, bị cáo S khai đã mua sữa, dầu xe ô tô hết; số tiền này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, cần tuyên truy thu sung ngân sách Nhà nư c đối v i bị cáo S.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm qu định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủ an thường vụ Quốc Hội.
Từ những nhận định nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Vũ Thị H về tội Mua bán trái phép chất ma túy qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Đình S về tội Mua bán trái phép chất ma túy qu định tại khoản Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Phát biểu luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng, án phí đối v i các bị cáo phù h p v i nhận định của Hội đồng xét xử nên đư c chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội v i vai trò là đồng phạm giúp bị cáo H đưa ma tuý cho H và nhận tiền từ H mang về cho H là 01 lần; đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối v i bị cáo Sơn từ 4 năm đến 5 năm tù là cao, không đề nghị áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối v i các bị cáo là chưa ảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; nên không đư c HĐXX chấp nhận.
Trong vụ án này có một số người liên quan đến vụ án, người làm chứng như sau:
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
. Đối v i Dương Quang H, sinh năm 2 ; trú tại xóm 6, xã K, huyện Y, tỉnh Tu ên Quang là người sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy t ng h p dạng đá. Tháng 3 2 22, H đến ở và giúp gia đình Trịnh Đình S làm công việc nấu cơm, chăm sóc câ cảnh, dọn dẹp nhà cửa, trông con, đư c S trả tiền công mỗi tháng 5.000.00 đ (Năm triệu đồng). Trong quá trình ở tại nhà S, H không biết, không nhìn thấ Vũ Thị H và Trịnh Đình S sử dụng và mua án ma tú , đến khoảng 18 giờ, ngà 26 4 2 22 H đang nằm ngủ ở nhà S thì thấ Cơ quan điều tra đến thực hiện Lệnh bắt và khám xét chỗ ở của S. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối v i mẫu nư c tiểu của Dương Quang H ngà 27 4 2 22 dương tính v i ma túy Methamphetamine. Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Hà Giang Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối v i Dương Quang H về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tú là đúng pháp luật.
2. Đối v i à Trịnh Bích H, sinh năm 975; trú tại t 12, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; là chị gái của Trịnh Đình S. Ngà 25 4 2 22, H có cho Trịnh Đình S va v i số tiền 2.65 . đồng (Mười hai triệu,sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền nà , S chưa sử dụng vào việc mua bán ma tuý, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tuyên trả lại cho chị Trịnh Bích H.
3. Đối v i Đoàn Quang H, sinh năm 998; trú tại xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang; H có đăng ký sử dụng số điện thoại số 0345 999xxx tại nhà mạng Viettel loại thuê bao trả trư c. Thời gian đi làm thuê ở thị trấn V, B, H có quen iết Trịnh Đình S và Vũ Thị H, đến đầu năm 2 9 H chu ển về nhà ở N, huyện X, do không có nhu cầu sử dụng nên H đã cho Vũ Thị H chiếc điện thoại kèm theo số sim 0345 999 xxx của H sau đó H sử dụng số điện thoại 0345 999 xxx vi phạm pháp luật thì H không biết; nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý H là có căn cứ.
Người làm chứng trong vụ án:
. Đối v i Nguyễn Mạnh H sinh năm 982; trú tại khu Q, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Phú Thọ. Ngu ễn Công T, sinh năm 976; trú tại t 2, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Hà Giang. H và T đều là những người sử dụng trái phép chất ma tú , đư c mua ma túy của bị cáo S và H v i mục đích là để sử dụng cho bản thân. Căn cứ kết quả xét nghiệm chất ma tú Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Hà Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối v i Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Công T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tú là đúng qu định của pháp luật.
2. Đối v i Ngu ễn Văn C là người lái xe taxi chở Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Công T, bản thân không sử dụng chất ma túy, không biết H và T mua ma túy về sử dụng. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối v i C là có căn cứ.
Đối với đối tượng liên quan trong vụ án: Người đàn ông ở xã X, huyện Q, là người án ma tú cho Vũ Thị H, do H không biết địa chỉ cụ thể, không nh , lưu số điện thoại của đối tư ng, quá trình mua án không có người làm chứng, chưa đủ căn cứ để xác định đư c danh tính của đối tư ng. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm sẽ xử lý đối tư ng theo qu định của pháp luật.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qu định tại các Điều 33 , Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tu ên ố các bị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S phạm tội “Mua án trái phép chất ma tú ”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 25 ; điểm s, t khoản Điều 51; khoản 1 Điều 7, Điều 58, Điều 5 , Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Thị H 08 (Tám) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, đư c trừ thời gian tạm giữ từ ngà 27 4 2 22 đến ngày 05/5/2022.
- Áp dụng khoản Điều 25 ; điểm s khoản Điều 51; khoản Điều 17, Điều 58, Điều 5 , Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Đình S 03 (Ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm tạm giam ngày 26/4/2022.
- Về hình phạt sung: Áp dụng khoản 5 Điều 25 Bộ luật Hình sự; xử phạt ị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S mỗi ị cáo số tiền là 5. . đ (Năm triệu đồng).
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
3.1. Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với vật chứng đồ vật còn giá trị sử dụng bao gồm:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động loại àn phím, màu đen, m t trư c, m t sau có chữ NOKIA, điện thoại đã qua sử dụng, không bật đư c nguồn, không kiểm tra đư c tình trạng hoạt động bên trong của điện thoại (thu giữ của bị cáo Trịnh Đình S);
- 01 (một) chiếc điện thoại di động loại àn phím, màu đen, m t trư c, m t sau có chữ NOKIA, điện thoại đã qua sử dụng, không bật đư c nguồn, không kiểm tra đư c tình trạng hoạt động bên trong của điện thoại (thu giữ của bị cáo Vũ Thị H);
- 01(một) cân điện tử, ký hiệu Digital Scale, màu đen, kích thư c (4x7x 1) cm, đã qua sử dụng.
3.2. Tuyên truy thu số tiền 5. . đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nư c đối v i bị cáo Trịnh Đình S.
3.3. Tuyên tịch thu tiêu huỷ vật chứng đồ vật không còn giá trị sử dụng:
- 01 (một) vỏ ống xilanh nhựa, loại 3 ccml, đã qua sử dụng;
- 01 (một) vỏ ống nư c cất NOVOCAIN, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) mảnh giấy bạc, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bộ coóng bằng thủy tinh, có cắm ống hút bằng nhựa, đã qua sử dụng;
- 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong kín, m t trư c phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1”, m t sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong;
- 01(một) phong bì màu trắng niêm phong kín, m t trư c ghi “Vụ Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 26/4/2022, vỏ bao bì niêm phong cũ: 01 túi niêm phong chuyên dụng cũ; 02 túi nilon, 01 túi nilon màu trắng xanh, 02 dây cao su băng dính màu đen”; m t sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.
3.4. Tuyên trả lại cho bà Trịnh Thị Bích H; địa chỉ: T 12, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang số tiền 12.650.000đ (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng).
Đặc điểm và tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2022 giữa Công an tỉnh Hà Giang và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủ an thường vụ Quốc Hội;
Các bị cáo Vũ Thị H, Trịnh Đình S mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 2 . đồng ( ai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 33 , Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có m t tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan vắng m t tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án ho c bản án đư c niêm yết.
Trường h p ản án, qu ết định đư c thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thoả thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án ho c ị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo qu định tại Điều 3 của Luật Thi hành án dân sự. .
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Giang; - PC01, PC04, PC10, PV06 Công an tỉnh Hà Giang; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang; - Người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA – TAND tỉnh; - Bộ phận HCTP; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Loan |