vanban.org

Bản án 68/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Tuyên án 09/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lương Quốc K phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 7,08 gam Heroine và các mảnh nilon mầu đen, mầu hồng cùng niêm phong cũ được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn; các mảnh nilon mầu xanh và niêm phong cũ đựng tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thi C và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lương Quốc K phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HS-ST
Ngày 09/12/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hoàng Chuân.

2. Bà Đặng Hải Yến.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tiến- Kiểm sát viên.

Ngày 09/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HS ngày 25/11/2022 đối với các bị cáo:

1. Chu Thị C, Sinh ngày: 06/02/1976, tại huyện V, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh L; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn T, sinh năm 1953 (đã chết); con bà Lương Thị P, sinh năm 1954.

Chồng thứ nhất: Hoàng Văn M, sinh năm 1975 (đã chết); Chồng thứ hai: Vương Văn X, sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V (hiện đang chấp hành án tại Trại giam H). Bị cáo có 04 con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2012. Hiện có 02 người con trú tại phường S, thành phố C, tỉnh H và 02 người con trú tại xã T, huyện V, tỉnh L.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Vương Thị U, sinh ngày 26/02/1974, tại huyện V, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện V, tỉnh L; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Vương Văn L, sinh năm 1935 (đã chết) và con bà Hà Thị S, sinh năm 1937.

Chồng thứ nhất: Lương Văn X, sinh năm 1973 (đã ly hôn năm 2009), hiện trú tại xã M, huyện V; chồng thứ hai: Giàng A D - sinh năm 1974 (không đăng ký kết hôn), nơi cư trú: xã M, huyện V, tỉnh L. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam công an tỉnh Y. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2011. Hiện đều trú tại xã M, huyện V, tỉnh L.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

3. Lương Quốc K - Sinh ngày 20/11/1996, tại huyện V, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện V, tỉnh L; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Lương Văn X - sinh năm 1973, trú tại xã M, huyện V, tỉnh L; Họ và tên mẹ: Vương Thị U - sinh năm 1974, nơi cư trú xã M, huyện V.

Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Chu Thị C: Bà Liệu Thị Thư, sinh năm 1988 - Trợ giúp viên, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo Vương Thị U và Lương Quốc K: Bà Lương Thị Chuyến, sinh năm 1991 - Trợ giúp viên, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.

* Người làm chứng: 1/ Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1980 - Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn Y, xã K, huyện V, tỉnh L.

1/ Ông Phạm Linh T, sinh năm 1979 - Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn Y, xã K, huyện V, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 40 phút ngày 17/9/2022, tại nhà riêng của Chu Thị C ở thôn B, xã T Công an huyện V phát hiện bắt quả tang Chu Thị C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên tay phải Chu Thị C 01 gói nilon màu đen, trong là lớp nilon màu hồng gói chất bột khô, màu trắng, vón cục. Ngoài ra còn thu giữa 01 điện thoại OPPO Reno6 Z 5G, số Imei 1: 869904056805735, số Imei 2: 869904056805727. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng. Tiến hành khám xét chỗ ở của Chu Thị C không phát hiện và thu giữ gì. Về nguồn gốc ma túy C khai mua của Vương Thị U, trú tại thôn M, xã M, do Lương Quốc K trú tại thôn M, xã M mang ma túy đến nhà đưa cho C. Tiến hành khám xét chỗ ở của Vương Thị U không phát hiện và thu giữ gì. Tiến hành khám xét chỗ ở của Lương Quốc K thu giữ 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. K khai nhận là ma túy của K tàng trữ để sử dụng cho bản thân, mua vào ngày 16/9/2022 của một người đàn ông không quen biết trên đường thuộc thôn M, xã M, với giá 50.000đ. Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn đã ra lệnh bắt người để tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vương Thị U, Lương Quốc K. Ngoài ra có tạm giữ của U 01 điện thoại OPPO Reno 2 F số Imei 1: 869778040943616, số Imei 2: 869778040943608.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 07 giờ ngày 16/9/2022, Chu Thị C gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho Vương Thị U để hỏi mua 02 chỉ ma túy và thỏa thuận giá là 1.000.000đ hẹn sẽ trả tiền sau, U đồng ý. Sau đó U đi đến thôn M, xã M gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy, với giá 800.000đ, rồi đi về nhà thì gặp con trai là Lương Quốc K đến chơi. U bảo K "Mang hai chỉ này xuống cho mợ C", đồng thời đưa gói ma túy vừa mua được cho K, K biết trong gói nilon màu đen mà U đưa là ma túy nên không hỏi gì thêm. Sau đó K điều khiển xe mô tô Wave Blade BKS 24V1-098.xx đến gặp C ở dưới tầng hầm, K đưa gói ma túy được gói bằng nilon màu đen cho C và nói "Của mợ đây", rồi đi về. Đến sáng ngày 17/9/2022, C đang đi bộ trên đường thuộc thôn B, xã T thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua ma túy. Do không mang theo ma túy nên C hẹn trưa đến nhà lấy và chỉ đường đến nhà cho người này biết. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi C đang cầm gói ma túy trên tay phải để bán cho người đàn ông đã hẹn đến mua ma túy thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 227/KL-GĐMT ngày 22/9/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 7,49 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Chu Thị C khi bắt quả tang gửi giám định là loại chất ma túy Heroine; 0,02 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lương Quốc K khi khám xét gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lương Quốc K, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai qua thẩm vấn đã làm rõ và nêu quan điểm luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ; bị cáo Lương Quốc K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Thị C từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm tù và phạt từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ sung Ngân sách Nhà nước.

- Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Thị U từ 07 năm 07 tháng tù đến 07 năm 10 tháng tù và phạt từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ sung Ngân sách Nhà nước.

- Đề nghị áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Quốc K từ 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù.

* Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 7,08 gam Heroine và các mảnh nilon mầu đen, mầu hồng cùng niêm phong cũ; Tịch thu sung ngân sách nhà nước các phương tiện sử dụng vào việc phạm tội gồm: 01 điện thoại OPPO Reno6 Z 5G đã thu giữ của bị cáo Chu Thị C; 01 điện thoại OPPO Reno 2 F đã thu giữ của bị cáo Vương Thị U.

* Tại phiên Tòa người bào chữa cho các bị cáo nhất trí về tội danh và điều luật như đại diện Viện kiểm sát luận tội; Đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Quốc K vì có ông Ngoại có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến và đề nghị Hội đồng xét xử: Xem xét xử phạt bị cáo Chu Thị C từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; bị cáo Vương Thị U từ 07 năm 04 tháng đến 07 năm 07 tháng tù; bị cáo Lương Quốc K từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Và không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo, vì các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật có phần hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Vương Thị U có Bố đẻ có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; sống bằng nghề trồng trọt thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì. Gia đình bị cáo Khánh thuộc diện hộ cận nghèo của xã.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo, tại phiên toà các bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 16/9/2022, bị cáo Chu Thị C gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho bị cáo Vương Thị U hỏi mua 02 chỉ ma túy và thỏa thuận giá là 1.000.000đ hẹn sẽ trả tiền sau, bị cáo U đồng ý. Sau đó bị cáo U đi đến thôn M, xã M gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói Heroine có khối lượng 7,49 gam với giá 800.000đ, rồi đi về nhà thì gặp con trai là bị cáo Lương Quốc K đến chơi. Bị cáo U bảo bị cáo K mang 7,49 gam Heroine xuống nhà riêng của bị cáo C ở xã T đưa cho bị cáo C. Sau đó bị cáo K điều khiển xe mô tô Wave Blade BKS 24V1-098.xx đến gặp bị cáo C, K đưa 7,49 gam Heroine cho bị cáo C rồi đi về. Đến sáng ngày 17/9/2022, C đang đi bộ trên đường thuộc thôn B, xã T thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua túy. Do không mang theo ma túy nên C hẹn trưa đến nhà lấy và chỉ đường đến nhà cho người này biết. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi C đang cầm gói Heroine trên tay phải để bán cho người đàn ông đã hẹn đến mua thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lương Quốc K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h, khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có nhận thức và hiểu biết pháp luật, biết nhà nước nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy; hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe con người nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân dẫn đến hành vi phạm tội. Ngoài ra bị cáo K là người sử dụng chất ma túy, bị cáo U là mẹ đẻ của bị cáo K, không những không khuyên nhủ con mình không sử dụng ma túy mà còn đưa ma túy cho K vận chuyển dẫn đến K phạm tội. Nên xét cần phải có một hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo Vương Thị U có Bố đẻ có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Đối với các bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U mua bán ma túy với khối lượng nhiều nên cần phạt bổ sung một khoản tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo Lương Quốc K là người sử dụng ma túy, sống phụ thuộc vào gia đình, bản thân không có tài sản riêng gì, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã nên không phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Chu Thị C và Vương Thị U nhưng các bị cáo mua bán ma túy với khối lượng lớn nhằm thu lời bất chính nên cần thiết phải phạt bổ sung một khoản tiền để dăn đe và phòng ngừa chung; người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo K vì có ông Ngoại có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ theo quy định của Pháp luật.

Về vật chứng: - Đối với 7,49 gam Heroine thu giữ của bị cáo Chu Thị C, Cơ quan giám định đã giám định và lưu mẫu 0,43 gam Heroine, còn lại 7,08 gam Heroine; 0,02 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lương Quốc K, cơ quan giám định đã lưu mẫu hết và các mảnh nilon màu đen, màu hồng, màu xanh và bì niêm phong cũ cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại OPPO Reno6 Z 5G thu giữ của Chu Thị C và 01 điện thoại OPPO Reno 2 F thu giữ của Vương Thị U là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về các tình tiết khác của vụ án: - Đối với 01 xe mô tô Wave Blade BKS 24V1-098.xx thuộc sở hữu của chị Hoàng Thị T, sinh năm 1980 cho chồng là Phạm Linh T, sinh năm 1979, cùng trú tại xã K, huyện V mượn để đi làm trên xã M, anh T gửi xe ở nhà bị cáo Vương Thị U. Bị cáo Lương Quốc K đã tự lấy xe đi để vận chuyển ma túy, chị T và anh T đều không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị T nên không đề cập giải quyết.

- Đối với 0,02 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lương Quốc K do khối lượng ma túy chưa đến mức xử lý Hình sự của tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an huyện Văn Bàn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Vương Thị U ngày 16/9/2022; người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Lương Quốc K và người đàn ông đã hỏi mua ma túy của bị cáo Chu Thị C ngày 17/9/2022. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ những người này nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lương Quốc K phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Thị C 07 (bẩy) năm 08 (tám) tháng tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2022, ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

- Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Thị U 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2022, ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

- Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Quốc K 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2022, ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 7,08 gam Heroine và các mảnh nilon mầu đen, mầu hồng cùng niêm phong cũ được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn; các mảnh nilon mầu xanh và niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước các phương tiện sử dụng vào việc phạm tội gồm: 01 (một) điện thoại OPPO Reno6 Z 5G đã thu giữ của bị cáo Chu Thị C; 01 (một) điện thoại OPPO Reno 2F đã thu giữ của bị cáo Vương Thị U. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 16/11/2022.)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Chu Thị C, Vương Thị U, Lương Quốc K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ