- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chât ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2022/HS-ST Ngày 29 tháng 6 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Anh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Nguyên Lâm.
2. Bà Nguyễn Thị Thêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phượng Khá - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Nhân Đ, sinh năm 1998 tại thành phố Hà Nội; HKTT và Nơi cư trú: Số 1, QT, phường QT, quận BĐ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang Th và con bà Nguyễn Thị Gi; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện nay, bị cáo Trần Nhân Đ đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 17/3/2022, tại trước cửa quán cafe P, đường DA, thuộc địa phận thôn D, xã DT, huyện HĐ, TP Hà Nội, Công an huyện Hoài Đ phát hiện hai nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Khi lực lượng Công an chuẩn bị kiểm tra thì một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) đã bỏ chạy và ném lại 01 (một) điện thoại Nokia vỏ màu đen cùng số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nam thanh niên còn lại khai tên là Trần Nhân Đ (Sinh năm 1998; HKTT: Số 1 QT, phường QT, quận BĐ, TP Hà Nội) đi xe máy Honda Wave, BKS: 29V3-12219 đang cầm trên tay phải 01 (một) túi nilon hình chữ nhật dán kín, bên trong túi chứa các thảo mộc khô dạng thân, cành, lá, Đ khai là ma tuý cần sa đang mang đi bán cho nam thanh niên đã bỏ chạy với giá 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) túi nilon hình chữ nhật kích thước (7,5x12) cm, mặt trước hai đầu túi màu nâu ghi chữ “Tom and Jerry; 4g” bên trong túi chứa các thảo mộc khô dạng thân, cành, lá của Trần Nhân Đ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu đen đã qua sử dụng, số Imei: 355693105022720, số thuê bao: 0896.681.198 của Trần Nhân Đ.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng, đen, BKS: 29V3-122.19, số máy: C12E-2010742, số khung: 12388Y305167 của Trần Nhân Đ.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số seri:1354275383477726 , số thuê bao: 0586.259.843 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của đối tượng nam thanh niên mua ma túy của Đ bỏ lại.
Ngày 17/3/2021, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hoài Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 113 đề nghị Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội giám định đối với số ma túy thu giữ của Trần Nhân Đ.
Tại Bản Kết luận giám định số 1798 ngày 24/3/2022 của phòng KTHS Công an TP. Hà Nội có kết quả (BL 83): 01 (một) gói nilon chứa thảo mộc khô (dạng thân, cành, lá) bên trong là cần sa, khối lượng 3,453 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Nhân Đ khai nhận: Khoảng 14 giờ 25 phút ngày 17/3/2022, Trần Nhân Đ nhận được tin nhắn từ điện thoại 0586.259.843 nhắn tin vào số điện thoại 0896.681.198 của Đ hỏi mua 05gam ma tuý cần sa với giá 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) và hẹn Đ mang đến quán café P ở đường DA, thuộc xã DT, huyện HĐ, TP Hà Nội, Đ đồng ý bán cần sa cho người này. Sau đó, Đ lên mạng xã hội Facebook dùng tài khoản “Nhân Đ” hỏi mua ma túy cần sa thì có một tài khoản facebook (Đ không nhớ tài khoản là gì do đã xóa lịch sử tin nhắn) bán ma túy cho Đ. Sau đó, Đ đi xe máy Honda Wave, BKS: 29V3-122.19 đến khu vực đường TKC, phường PH, quận HBT, TP Hà Nội như đã hẹn với tài khoản facebook trên và hỏi mua được của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 165cm, đeo khẩu trang, mặc quần bò xanh, đi giày thể thao (Đ không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 (một) gói ma tuý cần sa với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, Đ cất giấu vào túi quần và đi xe máy đến địa điểm hẹn giao dịch mua bán ma tuý với người có số điện thoại 0586.259.843. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ gặp một nam thanh niên khoảng 25 tuổi, cao khoảng 170cm, mặc quần áo trắng ngà, quần đùi, đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu trang hỏi mua ma tuý (Đ không biết họ tên, địa chỉ của người này) tại quán café P ở đường DA, thuộc xã DT, huyện HĐ, TP Hà Nội và chuẩn bị giao dịch mua bán ma tuý thì lực lượng Công an huyện Hoài Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật nêu trên.
Đối với nam thanh niên sử dụng số điện thoại: 0586259843 để mua ma túy của Trần Nhân Đ tại thôn D, xã DT, huyện HĐ, TP Hà Nội ngày 17/01/2022, do không rõ tên tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Ngày 18/3/2022, Cơ quan CSĐT ra Lệnh thu giữ điện tín xác định chủ số thuê bao: 0586259843 là của anh Nguyễn Thanh T (Sinh năm 1986, HKTT: khu NĐ, xã TL, huyện CK, tỉnh Phú Thọ). Tại cơ quan điều tra, anh Th khai không đăng ký, sử dụng số thuê bao 0586259843, anh Th không bị mất cũng như không cho ai mượn giấy tờ tùy thân, không biết lý do vì sao thông tin cá nhân của anh Th được dùng để đăng ký số thuê bao trên. Anh Nguyễn Thanh Th không có quan hệ, quen biết gì với Trần Nhân Đ, do vậy CSĐT không có căn cứ để xử lý.
Ngày 18/3/2022, Cơ quan CSĐT ra Lệnh thu giữ điện tín xác định chủ số thuê bao: 0896681198 (số điện thoại Đ sử dụng) là số thuê bao được đăng ký tên chính chủ của đối tượng Trần Nhân Đ. Tại cơ quan điều tra, Đ khai nhận đăng ký số thuê bao này ngày 08/07/2021 và sử dụng từ đó đến nay. Trong thời gian sử dụng Đ không làm mất, không cho ai mượn hay dung chung số thuê bao trên với ai.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Nhân Đ tại khu vực đường TKC, phường PH, quận HBT, TP Hà Nội, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng do rõ tên tuổi, địa chỉ nên không xác định được đối tượng nào để có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave RSX màu trắng, đen, BKS: 29V3-122.19, số máy: C12E-2010742, số khung: 12388Y305167 mà Trần Nhân Đ sử dụng để đi bán ma túy, Đ khai nhận đã mua tại một cửa hàng bán xe cũ trên đường N, quận BTL, TP Hà Nội nhưng không nhớ rõ địa chỉ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đ đã tra cứu chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Th (Sinh năm: 1993, HKTT: cụm 2, xã PT, huyện PT, TP Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh Th khai nhận do thời gian đã lâu nên anh Th không nhớ có đăng ký chiếc xe trên hay không, anh Th không bị mất xe máy đồng thời không có yêu cầu gì đối với chiếc xe máy trên. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội xác định phố Nhổn thuộc Công an phường Minh Khai và Công an phường Tây Tựu. Tiến hành xác minh tại Công an phường Minh Khai và Công an phường Tây Tựu thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xác định: trên khu vực phố Nhổn thuộc phường Minh Khai và phường Tây Tựu không xác định được địa điểm và người đã bán chiến xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng, đen, BKS: 29V3-122.19, số máy: C12E-2010742, số khung: 12388Y305167 cho Trần Nhân Đ. Qua tra cứu xe máy Honda Wave RSX màu trắng, đen, BKS: 29V3-122.19 không nằm trong xe vật chứng. Ngày 12/5/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đ đã làm công văn đề nghị Báo An ninh Thủ đô hỗ trợ đăng thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe có đặc điểm như trên nhưng đến nay chưa có ai đến nhận. Cơ quan điều tra tiến hành chuyển chiếc xe máy trên cùng hồ sơ vụ án.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Trần Nhân Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời của người người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ vụ án.
* Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSHĐ ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Nhân Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Nhân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Nhân Đ từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất vấn đề xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
* Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Nhân Đ thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Với mục đích mua ma túy để bán nên Trần Nhân Đ có hành vi mang 3,453 gam ma túy loại Cần sa đến khu vực trước cửa quán cà phê “Phố” trên đường DA, thôn D, xã DT, huyện HĐ, TP Hà Nội để bán cho một nam thanh niên chưa rõ nhân thân với giá 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) nhằm mục đích kiếm lời, thì bị lực lượng Công an huyện Hoài Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng toàn bộ tang vật.
Hành vi của bị cáo là mua bán bất hợp pháp chất ma tuý nhằm mục đích để kiếm lời, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà bị cáo Trần Nhân Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Nhân Đ cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đ truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma tuý là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo lên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán loại ma túy Cần sa với tổng khối lượng là 3,453g. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Nhân Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Nhân Đ không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường, mà cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Nhân Đ hình phạt tù có thời hạn là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Trần Nhân Đ không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với vật chứng là số ma túy thu giữ của Trần Nhân Đ là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với vật chứng là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu đen đã qua sử dụng, số Imei: 355693105022720, số thuê bao: 0896.681.198 của Trần Nhân Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số seri:1354275383477726, số thuê bao: 0586.259.843 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của đối tượng nam thanh niên mua ma túy của Đ bỏ lại, liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- Đối với vật chứng là: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng, đen, BKS: 29V3-122.19, số máy: C12E-2010742, số khung: 12388Y305167 thu giữ của Trần Nhân Đ. Chủ sở hữu trên Đăng ký xe máy là anh Nguyễn Văn Thanh khai không sở hữu chiếc xe máy nào như trên, anh không nhớ có đăng ký chiếc xe trên hay không , ngoài ra anh Thanh khai làm mất Chứng minh thư nhân dân từ lâu, đồng thời không có yêu cầu gì đối với chiếc xe máy trên. Bị cáo Trần Nhân Đ khai mua xe tại khu vực phố Nhổn và có đăng ký xe máy bản gốc mang tên Nguyễn Văn Th. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được địa điểm và người bán chiếc xe máy này. Qua tra cứu chiếc xe máy này không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Như vậy có thể xác định đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Trần Nhân Đ. Bị cáo sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện để thực hiện hành vi mua bán ma túy, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Nhân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Nhân Đ 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 46; Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy đối với vật chứng là:
- 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của Công an thành phố Hà Nội, có ghi tên đối tượng Trần Nhân Đ, sinh năm 1998, HKTT: Số 1, QT, phường QT, quận BĐ, thành phố Hà Nội. Tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, cán bộ Trần Văn N và đối tượng Trần Nhân Đ.
+ Tịch thu, sung công quỹ nhà nước đối với vật chứng là:
- Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu đen đã qua sử dụng, số Imei: 355693105022720. Trong có lắp 01 thẻ sim, trên mặt thẻ sim có các số: 88401201112004287;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen đã qua sử dụng, số Imei: 354275383477726. Trong có lắp 01 thẻ sim, trên mặt thẻ sim có các số: 8984050921 1550637443.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng, đen đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu. BKS: 29V3-122.19, số máy: C12E-2010742, số khung: 12388Y305167.
(Vật chứng là tiền theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/6/2022 nộp vào tài khoản số 3949.0.1052752.00000; các vật chứng khác hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo “Biên bản giao, nhận vật chứng” ngày 06 tháng 6 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đ).
* Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Buộc bị cáo Trần Nhân Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - UBND phường nơi bị cáo cư trú; - VKSND huyện Hoài Đức; - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS. huyện Hoài Đức; - TAND thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội. - Lưu hồ sơ VA. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Anh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |