- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09/12/2022 v/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Lam
Ông Nguyễn Nam Tiến
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 274/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 và quyết định hõan phiên tòa số: 64/2022/QĐHPT - HNGĐ, ngày 21/11/2022; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Huỳnh A – sinh năm 1998
Địa chỉ: khu phố 06, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; (Có
mặt).
Bị đơn: ông Lê Nh – sinh năm 1991
Địa chỉ khu phố 05, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; (vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà Huỳnh A trình bày: Bà và ông Lê Nh tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và sống với nhau vào năm 2020, hai bên gia đình không tổ chức lễ cưới hỏi cho ông bà, ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L vào ngày 09/3/2022.
Sau khi cưới ông Lê Nh về nhà bà ở rể được gần 01 năm. Cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Lê Nh chỉ hạnh phúc được khoảng 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Lê Nh không quan tâm đến bà và không rõ ràng về tài chính, ông Lê Nh thường xuyên gây chuyện cải nhau để bắt bà đưa tiền. Mặc dù bà đã khuyên can và bỏ qua nhiều lần nhưng ông Lê Nh vẫn không thay đổi. Từ tháng 04/2022 đến nay vợ chồng bà sống ly thân, không ai quan tâm đến ai
Nhận thấy đời sống hôn nhân đã không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã không còn, có hàn gắn cũng không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Nh.
Về con chung: bà và ông Lê Nh không có con chung.
Về tài sản và nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Nh: theo biên bản xác minh tại khu phố 05, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận thì ông Lê Nh có hộ khẩu tại khu phố 05, thị trấn L, huyện Tuy Phong và hiện đang có mặt tại địa phương. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Lê Nh theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông Lê Nh vẫn cố tình vắng mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến kiểm sát về việc tuân theo pháp luật:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Huỳnh A đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Lê Nh không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Nh, do đó đây là vụ án “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Nh có nơi cư trú tại khu phố 05, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa ông Lê Nh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Theo lời trình bày của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bà Huỳnh A và ông Lê Nh tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
Bà Huỳnh A trình bày ông Lê Nh không không quan tâm đến bà và không rõ ràng về tài chính, ông bà không còn chung sống từ tháng 03/2022 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng ông Lê Nh không chấp hành, điều này chứng tỏ ông Lê Nh không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn tình cảm với bà Huỳnh A. Quá trình xác minh tại địa phương và qua làm việc với gia đình bà Huỳnh A đều xác định bà Huỳnh A không còn chung sống với ông Lê Nh.
Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Huỳnh A và ông Lê Nh đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh A.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Huỳnh A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết quan hệ này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án thì bà Huỳnh Ai là người có yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh A đối với ông Lê Nh.
Bà Huỳnh A được ly hôn với ông Lê Nh.
3/ Về án phí: bà Huỳnh A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn. Bà Huỳnh A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0003657 ngày 16/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà Huỳnh A đã nộp đủ án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND (tỉnh+huyện); - Tòa án tỉnh; - Các đương sự; - THA huyện; - Lưu HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |