vanban.org

Bản án 68/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Út M về việc xin ly hôn với ông Phùng Đình Tr.

Cho bà Võ Út M được ly hôn với ông Phùng Đình Tr. Về con chung, tài sản chung và công nợ: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Út M về việc xin ly hôn với ông Phùng Đình Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10-08-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Kim Luyến;

Ông Nguyễn Quốc Thống.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 76/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Út M, sinh năm: 1988 (có đơn xin vắng).

Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Phùng Đình Tr, sinh năm: 1989 (có đơn xin vắng).

Địa chỉ: Khóm 8, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 3 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Út M trình bày yêu cầu:

Bà Võ Út M và ông Phùng Đình Tr cưới nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm và sống ly thân cho đến nay. Hiện nay hết tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với ông Tr.

Về con chung: Chưa có.

Tài sản chung và công nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phùng Đình Tr trình bày:

Ông và bà M cưới nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hợp nên đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Trong thời gian sống ly thân gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay bà M yêu cầu ly hôn ông đồng ý, vì duy trì cũng không có hạnh phúc.

Con chung: Chưa có.

Tài sản, nợ thu và trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Võ Út M, bị đơn ông Phùng Đình Tr có đơn xin xét xử vắng mặt yêu cầu của đương sự phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về nội dung vụ án

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Út M và ông Phùng Đình Tr thành hôn năm 2009, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 19 tháng 3 năm 2009 của UBND xã H, vì vậy quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Quá trình chung sống với nhau ông bà có những bất hòa không tự hàn gắn được, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông bà sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Thời gian sống ly thân cũng không giải quyết được mâu thuẫn nên bà M yêu cầu được ly hôn, ông Tr đồng ý. Thấy rằng, vợ chồng phải tôn trọng nhau, yêu thương chăm sóc nhau, nhưng giữa ông bà hiện tại không còn sống chung nhiều năm, ai lo thân người đó, trong thời gian sống ly thân ông bà vẫn không có biện pháp hàn gắn hôn nhân. Do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về thuận tình ly hôn mà cho ly hôn theo yêu cầu của bà M là phù hợp.

Về con chung: Chưa có nên không xem xét.

Về chia tài sản chung và công nợ: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch nguyên đơn phải chịu, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Út M về việc xin ly hôn với ông Phùng Đình Tr.

Cho bà Võ Út M được ly hôn với ông Phùng Đình Tr.

- Về con chung, tài sản chung và công nợ: Không xem xét.

- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0015515 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, án phí hôn nhân bà M đã nộp đủ.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ