vanban.org

Bản án 68/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Đi u 144, 147, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 68/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20/4/2022
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Thụy;

2. Bà Đào Thị Thu Vân.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C,

tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 126/2022/TLST-HNGĐ

ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn,

tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

112/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ánh H, sinh năm 1973; địa chỉ: số nhà 642, tổ

19, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm 1968; địa chỉ: số nhà 642, tổ 19, ấp B,

xã H, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ánh H trình bày, do tự tìm hiểu nhau, bà H và ông

L kết hôn vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện

C, tỉnh An Giang vào ngày 04/4/2006. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có

sinh 02 con chung tên Phan Huỳnh Yến N, sinh ngày 08/3/1996 đã thành niên, Phan Huỳnh Thanh D, sinh ngày 18/8/2005. Hiện tại, 02 con chung đang được bà H nuôi dưỡng.

Trong thời gian chung sống, bà H, ông L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,

nguyên nhân là do ông L ghen tuông vô cớ, tính tình không hợp nhau, ông L hay cờ bạc cá độ, thiếu nợ nhiều người bà H phải trả nợ cho ông L. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2014 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông

L; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phan Huỳnh Thanh D, sinh ngày 18/8/2005, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển I/2006, ngày 04/4/2006 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Phan Văn L và bà Huỳnh Thị Ánh H (bản chính); giấy khai sinh số 275 ngày 19/6/2006 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Phan Huỳnh Thanh D; giấy khai sinh, ngày 01/11/1999 do Ủy ban nhân dân thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp cho Phan Huỳnh Yến N (bản sao).

- Bị đơn ông Phan Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng

mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông L kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung từ năm 2014 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu ly hôn với ông L. Bà

H, ông L không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn hạnh phúc. Do đó, đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông L theo Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Duy cho bà

H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà H không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi

con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông L; bà H

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phan Huỳnh Thanh D; ông L

không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Huỳnh Thị Ánh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn L.

Đồng thời, ông L cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân

và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy

định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39

của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Phan Văn L đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng

mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại

khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà H và ông L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của

pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hợp pháp, được pháp luật

thừa nhận và bảo vệ.

Bà H xác định, trong thời gian chung sống, do ông L ghen tuông vô cớ,

tính tình không hợp nhau, ông L hay cờ bạc cá độ, thiếu nợ nhiều người bà H

phải đứng ra thanh toán nợ cho ông L và không còn sống chung từ năm 2014

cho đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống và không còn

sống chung từ năm 2014 đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn

nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông L

nhưng ông L không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà H. Cho nên, có căn

cứ xác định mâu thuẫn giữa bà H, ông L là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không

còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận

yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

có sinh 02 con chung Phan Huỳnh Yến N, sinh ngày 08/3/1996 đã thành niên, Phan Huỳnh Thanh D, sinh ngày 18/8/2005.

Xét thấy, con chung đang được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn

định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu Duy phát triển tốt về thể chất, tinh thần, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ghi nhận ý kiến của cháu Duy, cháu có nguyện vọng muốn sống với mẹ (bà H) sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử giao cháu Duy cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng

nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Đi u 144, 147, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ánh H.

1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ánh H được ly hôn với ông Phan Văn L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển I/2006, ngày 04/4/2006 do Ủy ban

nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Phan Văn L và bà Huỳnh Thị Ánh H không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Huỳnh Thị Ánh H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan

Huỳnh Thanh D, sinh ngày 18/8/2005. Ông Phan Văn L không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Huỳnh Thị Ánh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được

cản trở ông Phan Văn L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Ánh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba

trăm nghìn) đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm

nghìn) đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019137

do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 08 tháng 02

năm 2022; bà Huỳnh Thị Ánh H đã nộp đủ án phí.

Ông Phan Văn L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Huỳnh Thị Ánh H có quyền

kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Phan Văn L được tính là 15 ngày kể từ

ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Đi u 2

Lu t Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành

án dân s có quy n thoả thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t

nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 6,

7 và 9 Lu t thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy

định tại Đi u 30 Lu t thi hành án dân s .

Cỡ chữ