vanban.org

Bản án 68/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ka T đối với anh Huỳnh Hoàng P về việc “Xin ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013 cho anh Huỳnh Hoàng P chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao con chung là Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018 cho chị Ka T chăm sóc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ka T đối với anh Huỳnh Hoàng P về việc “Xin ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HNGĐ- ST
Ngày : 15-9-2022
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa Pên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tài

2. Bà Lê Thị Sáu

- Thư ký Pên tòa: Bà Ka Hít- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia Pên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 246/2022/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ka T, sinh năm 1983 Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Hoàng P, sinh năm 1982 Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/8/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Ka T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Việc chung sống là tự nguyện có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2020 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng mà không thể hàn gắn được tình cảm. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng nhau về quan điểm sống, tình cảm, anh P hay to tiếng, dọa nạt và đánh đập chị Ka T. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy chị Ka T xin được ly hôn với anh Huỳnh Hoàng P.

Về con chung: Chị Ka T trình bày quá trình chung sống chị và anh Huỳnh Hoàng P có 02 người con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013, Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018. Ly hôn chị Ka T yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc cả 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành. Chị Ka T yêu cầu anh Huỳnh Hoàng P cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/ 01 cháu/ 01 tháng.

Về tài sản chung: Chị Ka T trình bày chị và anh Huỳnh Hoàng P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Ka T trình bày chị và anh Huỳnh Hoàng P không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Hoàng P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Hoàng P chung sống và đăng kí kết hôn tại UBND xã Lộc Thành , huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2013. Hôn nhân là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, đôi khi vẫn cãi cọ xích mích với nhau. Công việc chính của anh P là làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà thăm vợ và con. Mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn xích mích với nhau thường xuyên nhưng anh P không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Huỳnh Hoàng P trình bày quá trình chung sống anh và chị Ka T có 02 người con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013, Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018. Ly hôn anh P yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc cả 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành. Anh P không yêu cầu chị Ka T phải cấp dưỡng nuôi con.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Ka T, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/ cháu/ tháng, anh P không có ý kiến gì.

Về tài sản chung: Anh Huỳnh Hoàng P trình bày anh và chị Ka T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Huỳnh Hoàng P trình bày anh và chị Ka T không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành mở Pên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 30/8/2022 nhưng không được do anh Huỳnh Hoàng P có yêu cầu đề nghị vắng mặt trong các Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Pên hòa giải, đồng thời chị Ka T có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nữa mà giải quyết vụ án theo pháp luật.

Tại Pên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia Pên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Pên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P được ly hôn. Về con chung giao con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013 cho anh Huỳnh Hoàng P chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao con chung là Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018 cho chị Ka T chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, về cấp dưỡng nuôi do chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P không yêu cầu nên không xem xét, về tài sản chung, nợ chung không xem xét, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Pên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Ka T và bị đơn anh Huỳnh Hoàng P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

II. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp:

Chị Ka T yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với anh Huỳnh Hoàng P, có địa chỉ tại thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ theo khoản 1, Điều 28, Điều 35, Điều 39 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo L.

III. Về nội dung vụ án:

{1} Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Việc chung sống là tự nguyện có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2020 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng mà không thể hàn gắn được tình cảm. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng nhau về quan điểm sống, tình cảm, anh P hay to tiếng, dọa nạt và đánh đập chị Ka T. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy chị Ka T xin được ly hôn với anh Huỳnh Hoàng P.

Còn anh Huỳnh Hoàng P cho rằng quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, đôi khi vẫn cãi cọ xích mích với nhau. Công việc chính của anh P là làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà thăm vợ và con. Mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn xích mích với nhau thường xuyên nhưng anh P không đồng ý ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Huỳnh Hoàng P có đơn đề nghị vắng mặt nên hòa giải không thành. Chứng tỏ anh P cũng không có thiện chí hòa giải đoàn tụ. Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì giữa vợ chồng chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P có mâu thuẫn, vợ chồng có sống ly thân, anh P vẫn về thăm vợ và con. Xét thấy hôn nhân đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hai người không còn quan tâm chăm sóc lần nhau, không hàn gắn tình cảm được nên cần căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P được ly hôn là có căn cứ và đúng pháp luật.

{2} Về con chung: Xét lời khai của chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P, căn cứ vào giấy khai sinh chị Ka T nộp cho Tòa án thì quá trình chung sống chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P có 02 người con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013, Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018. Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P đều yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Cháu L có đơn nguyện vọng muốn được ở với bố. Xét nguyện vọng nuôi con và giao con của chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P là có cơ sở và đúng pháp luật, vì vậy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013 cho anh Huỳnh Hoàng P chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao con chung là Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018 cho chị Ka T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

{3} Về tài sản chung: Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P trình bày quá trình chung sống hai người không có tài sản chung và không có yêu cầu giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{4} Về nợ chung: Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P trình bày quá trình chung sống hai người không có nợ chung nên không có yêu cầu gì do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{5} Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đây là vụ án không có giá ngạch, cần buộc chị Ka T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 235, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 70, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ka T đối với anh Huỳnh Hoàng P về việc “Xin ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là K’ Huỳnh Hoàng P L, sinh ngày 21/6/2013 cho anh Huỳnh Hoàng P chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao con chung là Ka Huỳnh Phương A, sinh ngày 11/4/2018 cho chị Ka T chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Ka T và anh Huỳnh Hoàng P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

“Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

3. Về án phí: Buộc chị Ka T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Ka T đã nộp tại biên lai nộp tiền số 0009529 ngày 11/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Chị Ka T đã nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại Pên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ