- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Tăng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2021/HSST Ngày: 26/03/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Xuân Hùng
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Dung và Ông Hoàng Minh Phương
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Lê Đại - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở tòa án nhân dân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 87/2021/HSST ngày 04/02/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/QĐXXST - HS ngày 12/3/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tăng Văn T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; sinh
ngày 07/01/1988 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Xóm 1, xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Tăng Văn C sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: Đặng Thị H (đã chết); Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 02; vợ, con: chưa có; Tiền án,tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án , trong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/11/2020, Tăng Văn T đang ở nhà thì có người bạn tên Th ở xã DX, huyện D, tỉnh Nghệ An đến rủ đi uống nước, trên đường đi T hỏi Th “ có tý đồ mô đó không?”, Th hiểu ý T hỏi có ma túy hỏi Th trả lời “có”. Sau đó Th đưa cho T 01 gói ni lông màu đen trong đó có chứa 02 viên ma túy hồng phiến. T cầm gói ma túy bỏ vào túi áo ngực bên trái rồi tiếp tục đi ra quán nước. Khi đi ra đến gần quán nước, Th có người gọi nên về trước. T ngồi uống nước đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày rồi về. Khi đi đến đường liên thôn xóm 1 xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác điều tra Công an tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện, thu giữ tại túi áo phía trước ngực bên trái Tăng Văn T đang mặc có 01 gói ni lông màu đem, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng phiến. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và đưa T về trụ sở UBND xã DH lập biên bản, sau đó bàn giao cho cơ quan CSĐT Công an huyện D điều tra theo quy định.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 10 giờ 25 phút ngày 11/11/2020 của Cơ quan CSĐT Công an huyện D và bản kết luận giám định số 1503/KL - PC09 ngày 16/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Tuấn gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,195 gam (không phẩy một trăm chín lăm)
Vật chứng vụ án thu giữ: 01 gói ni lông màu đen, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS-DC ngày 04/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố bị cáo Tăng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, khoản 1 điều 249; điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về hình phạt bổ sung : Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một bì thư đã được niêm phong trong đó có chứa ma túy đã thu giữ của Tăng Văn T.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/11/2020, tại khu vực xóm 1 xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ Công tác Công an xã DH, huyện D phát hiện và bắt quả tang Tăng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,195 gam ma túy (Methamphetamine) với mục đích để sử dụng. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, động. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Tăng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm tổn hại đạo đức xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: không có.
. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 điều 249 BLHS quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhờ một người bạn tên Th ở xã DX đi mua ma túy hộ nhưng do không rõ tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về vật chứng: 01 (một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định bên trong có vật chứng 01 (một) viên ma túy (methamphetamine) có khối lượng 0,095 gam (không phẩy không trăm chín mươi lăm gam); 01 (một) gói ni lon màu đen; 01(một) phong bì niêm phong ban đầu của Tăng Văn T sau khi lấy mẫu giám định, trên mép dán có chữ ký của cán bộ tham gia và đối tượng cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình
sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Tăng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: bị cáo Tăng Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 11/11/2020)
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định bên trong có vật chứng 01 (một) viên ma túy (methamphetamine) có khối lượng 0,095 gam (không phẩy không trăm chín mươi lăm gam); 01 (một) gói ni lon màu đen; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu của Tăng Văn T sau khi lấy mẫu giám định, trên mép dán có chữ ký của cán bộ tham gia và đối tượng.
Vật chứng trên hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện D quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/02/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện D và Chi cục thi hành án dân sự huyện D.
3. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Tăng Văn T phải nạp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Trại tạm giam; - VKS huyện Diễn Châu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Xuân Hùng |