vanban.org

Bản án 68/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 03/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc K phạm tội "Tàng tr trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm gi 13/5/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "anh Phạm Ngọc k phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc K phạm tội "Tàng tr trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2021/HS-ST
Ngày 03 - 8 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Hồng Thiêm.

Bà Vũ Thị Thúy.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký TAND huyện Thái Thụy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2021 đối với:

Bị cáo ạm Ng K; sinh ngày 07/7/1987 tại Thái B nh.

Nơi cư trú: Thôn H, x N, huyện X, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tr nh độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Văn B (đ chết và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1949; có vợ: Lê Thị L, sinh năm 1991 (đ ly h n , bị cáo có 01 con sinh năm 2010 (Hiện đang ở c ng m .

Tiền án: Bản án số 09/2020/HSST ngày 11/02/2010 của T a án nh n d n thành phố Thái B nh, tỉnh Thái B nh xử phạt Phạm Ngọc K 01 năm 03 tháng t về tội Tàng tr trái ph p chất ma túy và buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự sơ thẩm. Ngày 20/4/2020 K chấp hành xong án phí h nh sự, ngày 12/02/2021 K chấp hành xong h nh phạt t .

Tiền sự: Ngày 15/6/2018, T a án nh n d n thành phố Thái B nh ra Quyết định số 31/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc cai nghiện, thời hạn 18 tháng, K đ chấp hành xong quyết định ngày 02/11/2019.

Nh n th n: Ngày 03/6/2013, UBND thành phố Thái B nh ra Quyết định số 1601/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào Trung t m Ch a bệnh - Giáo dục - Lao động x hội thành phố Thái B nh, tỉnh Thái B nh, thời hạn 12 tháng, lý do nghiện ma túy, K đ chấp hành xong Quyết định ngày 22/5/2014.

Bị cáo bị bắt tạm gi từ ngày 13/5/2021 đến ngày 16/5/2021 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên t a.

* Người ch ng kiến:

- ng Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1980; (vắng mặt

- Bà Hoàng Thị im T, sinh năm 1974; (vắng mặt

Đều cư trú tại: Th n Q, x H, huyện T, tỉnh Thái B nh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 06 giờ ngày 13/5/2021, Phạm Ngọc K đi xe bus từ x N, huyện X, tỉnh Thái B nh đến khu vực thôn Đ, x H, huyện T, tỉnh Thái B nh th xuống xe đi bộ t m mua ma túy để sử dụng. Tại đ y, K gặp và mua của một người đàn ng khoảng 40 tu i, nhưng kh ng biết tên, địa chỉ 04 gói Heronine với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút c ng ngày iêm đang đi bộ trên đường th n Q, x H để t m xe bus về nhà th bị t c ng tác C ng an x Thụy Hải phối hợp với Ph ng ph ng chống tội phạm về ma túy Bộ tư lệnh v ng Cảnh sát biển 1 tuần tra phát hiện. Tại đ y, trước sự ch ng kiến của ng Nguyễn Mạnh C và bà Hoàng Thị im T, t c ng tác kiểm tra thu gi trong túi quần bên phải phía trước K đang mặc 01 gói được gói b ng giấy tráng kim loại màu vàng, bên trong có 04 gói được gói b ng giấy trắng có d ng k , bên trong cả 04 gói đều ch a chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong mẫu số A1), iêm khai đó là Heroine của K mua về để sử dụng cho bản th n. Sau đó, t công tác đưa K và mời nh ng người ch ng kiến về trụ sở Công an xã Thụy Hải lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K và biên bản niêm phong vật ch ng. C ng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của K nhưng kh ng thu gi gì.

Tại bản kết luận giám định số 172/ LGĐMT-PC09 ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận: Vật ch ng trong phong bì niêm phong mẫu số A1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1452 gam . Quá tr nh điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSTT ngày 15/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đ truy tố bị cáo Phạm Ngọc K về tội "Tàng tr trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như đ nêu trong bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy gi nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo K phạm tội "Tàng tr trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo. Ngoài ra, c n đề nghị xử lý vật ch ng và án phí.

Bị cáo không tranh luận đối với đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau c ng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo K đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như nội dung bản cáo trạng đ truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo c n được ch ng minh b ng các tài liệu, ch ng c sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm gi do Công an xã Thụy Hải và Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Thái Thụy lập ngày 13/5/2021 (bút lục số 63-65); Biên bản ghi lời khai của nh ng người ch ng kiến là ông Nguyễn Mạnh C và bà Hoàng Thị im T (bút lục số 90-97); bản kết luận giám định số 172/ LGĐMT- PC09 ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 71). Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các ch ng c nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn c để kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 13/5/2021, tại đường thôn Q, x H, huyện T, tỉnh Thái Bình, Phạm Ngọc K đ có hành vi tàng tr trái phép 0,1452 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân th bị C ng an x Thụy Hải phối hợp với Ph ng ph ng chống tội phạm về ma túy Bộ tư lệnh v ng Cảnh sát biển 1 bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn c để kết luận bị cáo Phạm Ngọc K đ phạm tội "Tàng tr trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đ truy tố là có căn c , đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng tr trái phép chất ma túy - Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Đánh giá tính chất m c độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc K là nghiêm trọng, g y nguy hại lớn cho x hội, kh ng chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có nh n th n xấu, 01 tiền án về tội Tàng tr trái ph p chất ma túy và 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tuy nhiên bị cáo kh ng lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản th n mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo phải chịu t nh tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự. Quá tr nh điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và có m đ là người có c ng với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng các t nh tiết giảm nh trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự.

Từ nh ng nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, tương x ng tính chất, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và ph ng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, cũng cần xem x t giảm nh một phần h nh phạt cho bị cáo là ph hợp với chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho x hội. h ng áp dụng h nh phạt b sung đối với bị cáo v bị cáo tàng tr ma túy để sử dụng cho bản th n, trước khi bị bắt, bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập kh ng n định và kh ng có tài sản riêng.

Về xử lý vật ch ng: Số ma túy thu gi của bị cáo thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc K phạm tội "Tàng tr trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm gi 13/5/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,0944 gam Heroine thu gi của bị cáo Phạm Ngọc K hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 172/ LGĐMT-PC09.

(Vật ch ng trên đ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật ch ng, tài sản ngày 16/7/2021)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Ngọc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Ngọc K có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 03/8/2021/.

Cỡ chữ