vanban.org

Bản án 68/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Q - Tàng trữ TP chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2021/HS-ST
Ngày: 16-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và ông Vũ Trí Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 (Sau đây viết tắt là 08/10/2021), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST-HS ngày 04/11/2021, đối với bị cáo:

Lƣơng Văn Q, sinh năm 1987, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 9Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Công T và bà Phạm Thị T (đã chết); vợ: Đinh Thị T; con: Có 01 con (sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/9/2021 và chuyển tạm giam từ ngày 09/9/2021 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn 9Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

+ Người làm chứng: Anh Trần Văn M, sinh năm 1984; vắng mặt.

+ Người chứng kiến: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1956; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16h40’ ngày 06/9/2021, tổ công tác của Công an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, phối hợp với Công an xã C, huyện L đang làm nhiệm vụ tuần tra tại trục đường bê tông thuộc địa phận thôn 9Đ, xã C, huyện L, phát hiện Lương Văn Q đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29X1-030.95, có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu Q dừng xe để kiểm tra hành chính thì phát hiện, thu giữ trên tay phải của Q một khẩu trang y tế màu xanh, bên trong có 01 (Một) túi nilon màu trắng, hàn kín, kích thước (02x02)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. Q khai nhận đó là ma tuý đá, cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành thu giữ: 01 khẩu trang y tế màu xanh và 01túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong phon bì ký hiệu “QT01”; túi 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Waveα, màu đen-xám, biển kiểm soát 29X1-030.95.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Văn Q: Không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

* Tại bản kết luận giám định số 203/PC09-MT ngày 09/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,373 (Không phẩy ba trăm bẩy mươi ba) gam, loại: Methamphetamine”.

* Về nguồn gốc số Methamphetamine thu giữ, Q khai: Khoảng 16h ngày 06/9/2021, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29X1-030.95 đi từ nhà đến khu vực đường nối hai cao tốc, gần cầu Hưng Hà thì gặp bạn nghiện tên là Đức (không rõ lai lịch). Đức cho Q một khẩu trang y tế màu xanh, bên trong có một gói ma tuý đá, Q cầm gói ma tuý đá ở tay trái và điều khiển xe mô tô đi về nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

* Quá trình điều tra Lương Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKSLN ngày 08/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã truy tố Lương Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Lương Văn Q, không có ý kiến thay đổi, bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lương Văn Q từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Lương Văn Q trình bầy nội dung vụ án diễn ra vào chiều ngày 06/9/2021. Tuy nhiên, không thừa nhận việc biết có ma túy để tàng trữ sử dụng như đã khai trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát

- Anh Nguyễn Văn Q trình bầy: Anh và bị cáo Lương Văn Q có quan hệ hàng xóm nơi cư trú; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29X1-030.95 là tài sản cá nhân của anh. Chiều ngày 06/9/2021 bị cáo có sang nhà mượn chiếc xe mô tô trên của anh, anh không biết bị cáo đi đâu và sử dụng xe để thực hiện tội phạm. Quá trình điều tra anh đã được nhận lại xe và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Lời khai nhận tội của Lương Văn Q tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về ma tuý, lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 16h40’ ngày 06/9/2021, tại địa phận thôn 9Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam, Lương Văn Q đang có hành vi cất giấu trái phép 0,373 (Không phẩy ba trăm bẩy mươi ba) gam chất ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cá nhân, thì bị lực lượng Công an huyện Lý Nhân bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Lương Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo quy định của pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến kỉ cương pháp luật, chuẩn mực đạo đức, lối sống, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người đã có gia đình ổn định, nhưng lại không chịu gương mẫu, rèn luyện mà lại thể hiện lối sống buông thả, ngoài vòng pháp luật nên đã sa ngã vào con đường nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay đang diễn ra phức tạp tại địa phương.

- Về nhân thân: Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào.

Xét thấy, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

+ Số Methamphetamine thu giữ của bị cáo cùng bao gói hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

+ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng, nêntrảlạichobịcáo(Tuy nhiên,tiếptụcthugiữ đểđảm bảonghĩa vụthihànhándân sự).

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Waveα, màu đen-xám, biển kiểm soát 29X1-030.95, quá trình điều tra đã xác định đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn Q. Anh Q cho bị cáo mượn để đi lại, không biết bị cáo sử dụng xe vào việc thực hiện tội phạm, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Quyết là phù hợp.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Lương Văn Q khai đã gặp bạn nghiện tên là Đức (Không biết danh tính, địa chỉ), được Đức đưa cho 01 khẩu trang y tế, bên trong có số ma tuý trên. HĐXX xét thấy, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xác minh, xử lý đối tượng đã khai theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2021.

[2] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì dán kín niêm phong số 203/PC09-MT, mặt trước của phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam.

- Trả lại cho bị cáo Lương Văn Q: 01 điện di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, số IMEI 1: 867816031559215, số IMEI 2: 867816031449207 (Tiếp tục thu giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án dân sự).

(Các vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 08/10/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).

[3] Căn cứ các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Văn Q phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ