- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2021/HS-ST Ngày 23-9-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phùng Đức Chính
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Sằn
Bà Chu Thị Hậu
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lộc Thị Mận – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 68/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Dƣơng Văn T; sinh ngày 17/4/1993 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và chỗ ở: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn L (đã chết) và bà Mã Thị S; có vợ là Lý Thị T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chƣa bị kết án, chƣa bị xử lý hành chính, chƣa bị kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 01/7/2021, tạm giam từ ngày 04/7/2021 đến nay; có mặt.
Người làm chứng: Tàng Văn T2, Hoàng Đức K, Hoàng Văn N; đều vắng mặt.
Người chứng kiến: Anh Lý Văn L1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Dƣơng Văn T nghiện ma túy từ khoảng năm 2015, nên đến khoảng cuối tháng 6 năm 2021, Tính đã nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lại cho các đối tƣợng nghiện khác để kiếm lời. Đƣợc các đối tƣợng nghiện giới thiệu và cho số điện thoại, Dƣơng Văn T đã liên lạc để mua ma túy với một ngƣời phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực đƣờng Bông Lau, thành phố Lạng Sơn. Dƣơng Văn T đã mua ma túy với ngƣời phụ nữ trên 02 lần, sau đó mang ma túy về nhà chia thành các gói nhỏ để dùng dần và bán lại cho các con nghiện, cụ thể:
- Lần thứ nhất mua 500.000đ tiền ma túy (không nhớ rõ thời gian cụ thể) về chia đƣợc thành 06 gói nhỏ. Đến khoảng 10 giờ ngày 28/6/2021, bán cho Hoàng Đức K 02 gói ma túy với giá 200.000đ. Khoảng 12 giờ cùng ngày, tiếp tục bán cho Hoàng Văn N 02 gói ma túy với giá 200.000đ, số còn lại T đã sử dụng hết.
- Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 01/7/2021 T rủ Tàng Văn T2 (sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn) ra khu vực thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc để chuộc xe máy mà T đã cầm trƣớc đó. T2 đồng ý, rồi lấy xe mô tô nhãn hiệu Wave A màu đen, biển kiểm soát 12K7-1243 chở T đến cửa hàng cầm cố xe ở khu vực đƣờng tàu ngã tƣ thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc. Do đã muộn, không chuộc đƣợc xe, T hỏi mƣợn xe mô tô của Tàng Văn T2 nói là đi có việc riêng, T2 đồng ý và ngồi chờ tại một quán nƣớc ở khu vực thành phố Lạng Sơn. T lấy xe đi và gọi điện cho ngƣời phụ nữ để mua 3.000.000 đồng tiền ma túy, ngƣời phụ nữ đồng ý và hẹn T ra khu vực vắng ngƣời ở đƣờng Bông Lau, thành phố Lạng Sơn để giao ma túy. T đến chỗ hẹn thì khoảng 10 phút sau ngƣời phụ nữ đến, T đƣa 3.000.000đ để lấy ma túy, ngƣời phụ nữ chỉ cho T nơi cất giấu ma túy tại một cột điện ven đƣờng cách chỗ hẹn khoảng 20m rồi đi luôn. T đến lấy ma túy và tìm chỗ vắng cất giấu số ma túy vừa mua đƣợc vào hậu môn. Sau đó T quay lại quán nƣớc đón Tàng Văn T2 rồi cả hai cùng về. Khi về đến ngã tƣ thuộc khối 5, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, T xuống quán nƣớc cạnh đƣờng mua thuốc lá, nƣớc uống, còn T2 điều khiển xe mô tô đi đổ xăng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T đang đợi ở quán nƣớc thì bị lực lƣợng chức năng phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 mảnh nilon màu hồng bên trong bọc 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy chứa các cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng; số tiền 4.750.000đ.
Tại Kết luận giám định số 259/KL-PC09 ngày 03/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lƣợng 1,426 gam (đã trừ bì).
Tại Kết luận giám định số 327/KLGĐ-PC09 ngày 09/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 4.750.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Đức K khai nhận: Do chơi với nhau từ lâu và biết Dƣơng Văn T có bán ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 28/6/2021 anh đƣợc mua 02 gói ma tuý, mỗi gói 100.000đ với Dƣơng Văn T về để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn N khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2018 và có quen biết với Dƣơng Văn T do cùng là ngƣời nghiện, ngày 28/6/2021 Hoàng Văn N đƣợc mua 02 gói ma tuý, mỗi gói 100.000đ với Dƣơng Văn T về để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra anh Tàng Văn T2 khai: Ngày 01/7/2021 anh có đƣợc cùng Dƣơng Văn T ra khu vực thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc để chuộc xe máy Tính đã cầm trƣớc đó. Việc Dƣơng Văn T mƣợn chiếc xe mô tô đi đâu, làm gì Tàng Văn T2 hoàn toàn không biết.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKS- HS ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Dƣơng Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng Điểm b Khoản 2, Khoản 5 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dƣơng Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù giam; áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 1,217 gam Heroine và các vỏ bao gói (cũ); Tịch thu xung công quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI: 868385033699170 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; Trả lại cho bị cáo số tiền 4.750.000 đồng đựng phong bì đƣợc niêm phong do không liên quan đến việc phạm tội, nhƣng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Truy thu số tiền 400.000 đồng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đức K và Hoàng Văn N.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về cùng gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Dƣơng Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Ngày 01/7/2021, bị cáo Dƣơng Văn T đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy Heroine, có khối lƣợng 1,462 gam. Trƣớc đó, ngày 28/6/2021 bị cáo đã bán ma túy cho Hoàng Đức K 02 gói ma túy với giá 200.000đ và bán ma túy cho Hoàng Văn N 02 gói ma túy với giá 200.000đ. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo Dƣơng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nƣớc về chất ma tuý mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của ngƣời sử dụng, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con ngƣời, làm khánh kiệt về kinh tế; ma tuý còn là nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm và làm lan truyền nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh trƣớc pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa các hành vi tƣơng tự.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đang bị tạm giữ số tiền 4.750.000 đồng nên có khả năng thi hành nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 1,217 gam Heroine và các vỏ bao gói (cũ), đây là vật Nhà nƣớc cấm tàng trữ và liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI: 868385033699170 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, hóa giá sung công quỹ Nhà nƣớc.
Đối với số tiền 4.750.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Số tiền 400.000 đồng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đức K và Hoàng Văn N nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nƣớc.
Đối với ngƣời phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo. Do bị cáo không xác định đƣợc họ, tên đầy đủ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Hoàng Đức K và Hoàng Văn N là các đối tƣợng nghiện ma túy, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an địa phƣơng nơi các đối tƣợng cƣ trú để lập hồ sơ đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Đối với Tàng Văn T2 do không biết bị cáo Dƣơng Văn T mƣợn xe mô tô đi mua ma túy nên không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xen xét.
Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và một số nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là ngƣời bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm b Khoản 2, Khoản 5 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/7/2021.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo Dƣơng Văn T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "QUẢ TANG DƢƠNG VĂN T (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 1,217 gam Heroine và các vỏ bao gói (cũ).
Tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI: 868385033699170.
Trả lại cho bị cáo Dƣơng Văn T số tiền 4.750.000đ (Bốn triệu bảy trăm năm mƣơi nghìn đồng) đựng trong phong bì đƣợc niêm phong dán kín mặt trƣớc có dòng chữ viết tay "QUẢ TANG DƢƠNG VĂN T 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mƣơi nghìn đồng)" tại vị trí niêm phong sau giám định có chữ ký cùng tên của giám định viên, trợ lý giám định và đóng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Tạm giữ số tiền nêu trên để đảm bảo thi hành án.
4. Truy thu sung công quỹ Nhà nƣớc đối với bị cáo Dƣơng Văn T số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 9 năm 2021)
5. Về án phí: Bị cáo Dƣơng Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nƣớc.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dƣơng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tƣ pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lƣu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Đức Chính |