- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông S yêu cầu bà H và ông M trả tiền nợ vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 23.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2021/DS-ST Ngày 10 - 3 - 2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quốc Toàn.
Bà Nguyễn Kim Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 717/2020/TLST- DS ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện T, tỉnh C.
Bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 15/12/2020 cùng các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày:
Vào ngày 20/11/2019 ông Trần Văn M có hỏi vay của ông với số tiền là 10.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 20/12/2019. Quá trình vay tiền thì ông M có ký biên nhận nợ ngày 20/11/2019. Ngày 20/12/2019 ông Trần Văn M tiếp tục hỏi vay của ông với số tiền là 15.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 20/01/2020. Quá trình vay tiền thì ông M có ký biên nhận nợ ngày 20/12/2019. Đến ngày 13/6/2020 bà Nguyễn Thị H có trả cho ông được 1.900.000 đồng, đồng thời thỏa thuận sẽ trả thay nợ của ông Trần Văn M cho ông S số tiền là 23.100.000 đồng nhưng đến nay không thực hiện, ông có liên hệ yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng ông M và bà H không thực hiện và cứ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H trả cho ông với tổng số tiền là 23.100.000 đồng, tại phiên tòa ông không yêu cầu tính lãi suất.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H đúng quy định pháp luật. Nhưng ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H vắng mặt và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa ông Nguyễn Việt S với ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại huyện Phú Tân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H.
Về nội dung tranh chấp:
Ông Nguyễn Việt S xác định giữa ông và ông Trần Văn M có thỏa thuận vay tiền cụ thể là vào ngày 20/11/2019 ông Trần Văn M có hỏi vay của ông với số tiền là 10.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 20/12/2019 và ngày 20/12/2019 ông Trần Văn M có hỏi vay của ông với số tiền là 15.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 20/01/2020. Quá trình vay tiền thì ông M có ký biên nhận nợ. Đến ngày 13/6/2020 bà Nguyễn Thị H có Biên nhận nợ thỏa thuận và cam kết sẽ trả thay cho ông M số tiền là 23.100.000 đồng. Vì từ khi vay đến ngày 13/6/2020 ông M và bà H đã trả cho ông số tiền 1.900.000 đồng và còn nợ lại 23.100.000 đồng.
Ông Trần Văn M có vay tiền của ông Nguyễn Việt S là thực tế xảy ra và để nợ quá hạn do ông M phải trả nợ gốc và lãi nhưng không thực hiện. Phía ông S đã nhiều lần yêu cầu ông M thực hiện nhưng ông M không thanh toán cho ông S, bà Nguyễn Thị H có thỏa thuận và cam kết sẽ trả nợ thay cho ông M số tiền trên cho ông S. Ông S có cung cấp một Giấy nhận nợ lập ngày 20/11/2019, một Biện nhận nợ lập ngày 20/12/2019 doo ông M ký tên và một Biên nhận nợ lập ngày 13/6/2020 có nội dung về việc bà H bảo lãnh trả thay nợ tiền cho ông M, ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H có ký tên đúng như ông S trình bày. Đối với ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp, ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Việt S. Từ đó buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H trả cho Nguyễn Việt S tổng số còn nợ là 23.100.000 đồng là có cơ sở. Tại phiên tòa ông Nguyễn Việt S không yêu cầu tính lãi suất nên không đặt ra xem xét.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26; 35; 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 23.100.000 đồng (hai mươi ba triệu một trăm nghìn đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H cùng liên đới phải chịu 577.500 đồng (năm trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Ông Nguyễn Việt S đã nộp tạm ứng số tiền 578.000 đồng (năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0012314 ngày 18/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho Nguyễn Việt S.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |