vanban.org

Bản án 68/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 07/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Tô Văn C: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Tô Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn Cường - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2020/HS-ST
Ngày 07- 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Minh

2. Ông Nguyễn Thái Hòa

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2020/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:

Tô Văn C, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1993; trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn T, sinh năm 1967 và bà Hà Thị B, sinh năm 1969; có vợ: Nguyễn Thị H và có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

Người bị hại: Ông Dương Văn D, sinh năm 1933; trú tại: Thôn An T, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Dương Văn V, sinh năm 1965; trú tại: Thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (cómặt).

Người làm chứng: Ông Dương Văn D, sinh năm 1974; trú tại: Thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/3/2020, Tô Văn C, sinh năm 1993; trú tại thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là người có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88F1- 316.20 nhãn hiệu Honda, loại xe VISION màu sơn xanh, dung tích xi lanh 108cm3 tham gia giao thông đi trên đường liên xã từ thôn Đ, xã N, huyện V đến xã V, huyện V để đổ xăng. Đến khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn V, xã N, huyện V, C điều khiển xe đi theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã N ra đường tỉnh lộ 304. Khi C điều khiển xe mô tô cách Ủy ban nhân dân xã N khoảng 200 mét hướng đi thị trấn T, huyện V thì phát hiện 01 xe đạp đi cùng chiều do ông Dương Văn D, sinh năm 1933; trú tại thôn A, xã Nn, huyện V điều khiển, lúc này khoảng cách xe mô tô của C và xe đạp của ông D khoảng 30 mét đến 40 mét, C tiếp tục điều khiển xe và tăng tốc, bấm còi đi sang làn đường bên trái theo hướng đi của mình để vượt xe đạp của ông D. Khi xe mô tô của C cách xe đạp của ông D khoảng 07 mét đến 08 mét thì ông D chuyển hướng rẽ trái hướng vào trạm y tế xã N để về nhà, do không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn nên xe mô tô do C điều khiển đã đâm va vào bên trái đuôi xe đạp ông Dương Văn D. Sau khi va chạm xảy ra ông D bị thương được đưa đến cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện V, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc điều trị, còn C điều khiển xe mô tô đi về nhà, xe đạp do ông D điều khiển cũng được người dân đưa về nhà ông D. Đến ngày 02/3/2020, do thương tích của ông D nặng nên anh Dương Văn P, sinh năm 1970; trú tại thôn A, xã Nn, huyện V là con trai ông D đã trình báo Cơ quan Công an đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ngày 13/4/2020, ông D được chuyển đến Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Vĩnh Phúc để điều trị sau đó ra viện về nhà tự điều trị nhưng do tuổi cao, sức yếu và tổn hại sức khỏe sau tai nạn giao thông nên đến ngày 08/6/2020 ông D đã tử vong tại nhà ở của mình ở thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tổ chức các hoạt động kiểm tra, xác minh theo quy định Pháp luật. Quá trình kiểm tra đã tạm giữ 01 xe đạp nữ màu xanh, nhãn hiệu Thống Nhất; 01 xe mô tô biển kiểm soát 88F1-316.20 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn xanh; 200 ml nước tiểu của Tô Văn C; mẫu sơn thu tại vị trí mặt ngoài phía dưới khung đỡ trục bánh sau bên trái xe đạp, mẫu chất màu xanh tại mặt ngoài bên phải ốc hãm trục bánh trước bên phải xe mô tô BKS: 88F1- 316.20, mẫu máu thu tại hiện trường. Vật chứng trên được tiến hành niêm phong theo quy định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông thuộc đường liên xã N, thị trấn T, địa phận thôn V, xã N, huyện V có một hướng đi thị trấn T, một hướng đi Ủy ban nhân dân xã N, tại vị trí xảy ra tai nạn tiếp giáp mép đường bên trái theo hướng từ N đi thị trấn T có lối rẽ đi trạm y tế xã N rộng 14,20m; mặt đường nơi xảy ra tai nạn giao thông được đổ nhựa áp phan rộng 5,50m tương đối bằng phẳng, tại vị trí phát hiện các dấu vết trên mặt đường có gờ được đổ bê tông cắt ngang phần đường xe chạy, gờ này rộng 0,61m, vị trí cao nhất so với mặt đường là 0,03m. Theo chiều từ N đi thị trấn T tiếp giáp với mép đường bên phải là lề đường đất rộng 2,30m tiếp đến là đầm nước và lều của gia đình ông Chu Văn V, sinh năm 1968, ở xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tiếp giáp với mép đường bên trái là lề đường đất rộng 1,70m, tiếp đến là đầm nước. Trên lề đường đất bên phải có hệ thống cột đèn điện chiếu sáng. Chọn chiều khám nghiệm theo chiều từ N đi thị trấn T. Chọn cột đèn điện số 07 nằm tại lề đường đất phía bên phải theo chiều từ N đi thị trấn T là điểm mốc. Chọn mép đường bên phải theo chiều từ N đi thị trấn T là mép đường chuẩn.

Tại hiện trường vụ việc phát hiện có những dấu vết sau:

Vết cày kích thước 0,44x0,01m ký hiệu là (1) có chiều theo chiều từ N đi thị trấn T, đầu (1) cách điểm mốc là 6,33m, đầu (1) cách mép đường chuẩn là 3,20m, đầu (1) cách tâm lối mở đi trạm y tế xã N là 10,66m, cuối (1) cách mép đường chuẩn là 3,18m.

Vết cày kích thước 0,32 x 0,01m ký hiệu là (2) có chiều hướng theo chiều từ xã N đi thị trấn T, đầu (2) cách đầu (1) là 2,54m, đầu của (2) cách mép đường chuẩn là 3,5m, cuối của (2) cách mép đường chuẩn là 3,47m.

Vết cày kích thước 1,44x0,12m ký hiệu là (3) có chiều theo hướng từ N đi thị trấn T, đầu của (3) có chiều hướng theo chiều từ N đi thị trấn T, đầu của (3) cách đầu của (2) là 1,52m, đầu của (3) cách mép đường chuẩn là 3,78m, cuối của (3) cách mép đường chuẩn là 3,68m.

Vết máu kích thước 0,25x0,25 ký hiệu là (4), tâm của (4) cách đầu (1) là 4,35m, tâm của (4) cách đầu (3) là 0,45m, tâm (4) cách mép đường chuẩn là 4,05m. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ mẫu máu tại vị trí số (4) trên hiện trường.

Ngày 22/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông nêu trên. Kết quả hoàn toàn phù hợp với những tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Xe đạp nữ màu xanh, nhãn hiệu Thống Nhất, xe có giỏ phía trước màu đen, sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau: Đầu tay nắm phía bên trái của xe có vết mài mòn, trượt xước nhựa kích thước 1cm x 1cm. Đầu tay nắm phía bên phải có vết trượt xước nhựa, kích thước 1cm x 1cm. Mặt ngoài bàn đạp phía trước bên phải có vết chà sát kim loại, nhựa trên diện 6cm x 2cm. Xích xe bị bung rời khỏi đĩa xích. Vành xe bánh sau bị cong vênh móp méo tại vị trí chân nan hoa, bị đẩy cong theo chiều từ trái qua phải khiến cho vành xe này bị ép sát vào khung đỡ trục sau bên phải của xe. Van hơi bị bung rời khỏi xe khiến cho lốp xe bánh sau bị xẹp lép hơi. Nan hoa thứ nhất của bánh sau tính từ đầu chân van theo chiều ngược chiều tịnh tiến của bánh bị bung rời khỏi xe. Nan hoa thứ 11 của bánh sau tính từ đầu chân van theo chiều tịnh tiến của bánh bị bung rời khỏi vành xe. Mặt ngoài phía dưới của khung đỡ trục bánh sau bên trái có vết trượt xước sơn, mài mòn kim loại trên diện 7cm x 2cm. Mặt ngoài phía sau của chắn bùn phía trước xe bị cong vênh móp méo kích thước 12cm x 5cm. Mặt ngoài bên phải của yên sau bằng kim loại có vết chà sát bám bụi đất màu trắng kích thước 30cm x 12cm.

- Xe mô tô biển kiểm soát 88F1- 316.20 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn xanh, sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau: Mặt gương chiếu hậu bên trái bị nứt vỡ khiến cho toàn bộ phần kính gương bị bung rời, kích thước 14cm x 8cm. Đầu núm tay lái bên trái có vết trượt xước mài mòn kim loại, kích thước 2cm x 1cm. Đầu núm tay phanh bên trái có vết trượt xước kim loại, kích thước 1cm x 1cm. Cung chắn bùn bánh trước bị bung rời khỏi ốp đầu phía trước, tại vị trí cuối mặt bên phải của cung chắn bùn này bị chà sát kích thước 10cm x 6cm. Mặt bên phải của ốc hãm trục bánh trước bên phải có vết trượt xước kích thước 1cm x 1cm. Mặt ngoài bên phải ống giảm sóc bên phải bánh trước có vết cày xước kích thước 7cm x 4cm. Mặt ngoài bên trái của khung chắn bảo vệ cánh yếm bên trái bị chà sát toàn bộ. Mặt ngoài của ốp bảo vệ bên trái hộp dầu phanh bánh sau có vết mài mòn kích thước 4,5cm x 8cm. Mặt ngoài bên trái cần khởi động có vết chà sát, mài mòn kim loại kích thước 3cm x 1,5cm.

Ngày 03/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích số 159, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định Pháp y về thương tích đối với ông Dương Văn D. Ngày 22/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V nhận được Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 170/TgT ngày 20/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

- Liệt nặng hai chi dưới, co rút cứng mức độ nặng. Xếp: 75%.

- Khuyết xương sọ vùng trán đỉnh phải đáy chắc còn phương tiện kết hợp xương. Xếp: 31%.

- Vỡ xương chẩm. Xếp: 16%.

- Tràn dịch màng phổi hai bên, xẹp phổi. Xếp: 07%.

- Tụ dịch dưới màng cứng thuỳ trán- thái dương bên trái sau mổ lấy máu tụ: Xếp 8%.

- Tụ máu dưới nhện rãnh cuộn não thuỳ đỉnh bên phải. Xếp: 08%.

- Sẹo mổ vùng đỉnh thái dương lệch phải. Xếp: 02%.

- Vết loét vùng cùng cụt. Xếp: 03%.

- Vết hoại tử 1/4 trên trong mông trái. Xếp 02%.

- Vết thương đã đóng vảy tiết vùng đỉnh chẩm lệch trái. Xếp: 02%.

- Hiện tại: Nạn nhân đang điều trị, khi nào ổn định giám định bổ sung.

- Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên là do vật tày gây nên.

* Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, Pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 90 % (Chín mươi phần trăm). Theo nguyên tắc cộng tại thông tư.

* Kết luận khác: Kèm theo 01 bản ảnh thương tích số 170/TgT ký ngày 20/5/2020.

Ngày 03/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích số 160, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định Pháp y về thương tích đối với Tô Văn C nhưng trong quá trình kiểm tra xác minh, C đã tự nguyện viết đơn xin từ chối giám định thương tích. Ngày 05/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định dẫn giải số 26 tiến hành dẫn giải C đến Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc để giám định Pháp y về thương tích làm căn cứ giải quyết. Tuy nhiên, khi Cơ quan điều tra thi hành Quyết định dẫn giải thì C đã kiên quyết từ chối, không chấp hành Quyết định dẫn giải nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định tổn hại sức khỏe của C trong vụ tai nạn giao thông nêu trên.

Ngày 03/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 161, Trưng cầu Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định hóa pháp lý đối với mẫu chất màu xanh mà Cơ quan điều tra đã thu giữ trong quá trình khám nghiệm phương tiện. Ngày 10/3/2020, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 480/KLGĐ, kết luận: Chất màu xanh ghi thu tại mặt ngoài bên phải ốc hãm trục bánh trước bên phải xe mô tô BKS: 88F1- 316.20 của mẫu ký hiệu B1 gửi giám định cùng loại với mẫu sơn màu xanh ghi thu tại mặt ngoài phía dưới khung đỡ trục bánh sau bên trái xe đạp của mẫu ký hiệu A1 gửi làm mẫu so sánh.

Ngày 03/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 162, Trưng cầu Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định Chất gây nghiện trong mẫu nước tiểu của Tô Văn C. Ngày 07/3/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 470/KLGĐ, kết luận: Không phát hiện thành phần chất ma tuý (Morphine; MDMA, Methamphetamine, Delta- 9- tetrahydrocanabinol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu vàng nhạt ghi là nước tiểu của Tô Văn C, sinh năm 1993; trú tại xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc được niêm phong trong chai nhựa gửi giám định.

Ngày 03/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Yêu cầu định giá tài sản số 58, 59 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V tiến hành định giá tài sản thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông nêu trên. Ngày 13/3/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V có Kết luận định giá tài sản số 33, 34 kết luận:

- Tổng giá trị thiệt hại tài sản của xe mô tô biển kiểm soát 88F1- 316.20 có đặc điểm nêu trên là 111.000đ (Một trăm mười một nghìn đồng chẵn).

- Tổng giá trị thiệt hại tài sản của xe đạp có đặc điểm nêu trên là 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng chẵn).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thông báo các kết luận giám định, định giá nêu trên cho Tô Văn C và ông D cùng gia đình ông Dương Văn D biết. Tất cả đều đồng ý, không có thắc mắc gì.

Quá trình kiểm tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã sử dụng 01 máy đo nồng độ cồn nhãn hiệu ALCOSENSE-PROD1GV11 số ID 858769, ngày hiệu chỉnh gần nhất 15/01/2020, để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Tô Văn C. Kết quả trong hơi thở của Tô Văn C có nồng độ cồn là: 0.000mg/L khí thở.

Tại Cáo trạng số 68/CT-VKSVT ngày 31/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Tô Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với bị cáo C; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tô Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thử thách từ 03 năm đến 04 năm. Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, bị cáo khai nhận:

Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 01/3/2020, bị cáo có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88F1- 316.20 nhãn hiệu Honda, loại xe VISION màu sơn xanh, dung tích xi lanh 108cm3 tham gia giao thông đi trên đường liên xã từ thôn Đ, xã N, huyện V đến xã V, huyện V để đổ xăng khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn V, xã N, huyện V, do không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn nên xe mô tô do bị cáo điều khiển đã đâm va vào bên trái đuôi xe đạp do ông Dương Văn D điều khiển đang chuyển hướng rẽ trái vào trạm y tế xã N. Hậu quả: Ông D bị thương được đưa đến cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện V, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc điều trị với tỷ lệ thương tích là 90%. Do tuổi cao, sức yếu và tổn hại sức khỏe sau tai nạn giao thông nên đến ngày 08/6/2020 ông D đã tử vong tại nhà ở của mình ở thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nguyên nhân vụ tai nạn giao thông trên là do lỗi của cả bị cáo và ông D. Ông D điều khiển xe đạp chuyển hướng xe không có tín hiệu xin rẽ, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 15 luật giao thông đường bộ năm 2008. Bị cáo C điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn dẫn đến ông Dương Văn D bị thương tích 90%, đã vi phạm khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Ngày 08/6/2020 ông D tử vong, cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định số 345 Trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định Pháp y về tử thi đối với ông Dương Văn D. Tuy nhiên, gia đình ông D trình bày bản thân ông D tuổi cao, sau tai nạn giao thông sức khoẻ yếu, việc ông D tử vong không phải nguyên nhân do tai nạn giao thông nêu trên và không có thắc mắc gì về nội dung tử vong này. Gia đình ông D đã tự nguyện viết đơn xin từ chối giám định pháp y, do vậy Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định nguyên nhân tử vong của ông D trong vụ tai nạn giao thông nêu trên nên chỉ đủ căn cứ khởi tố Tô Văn C về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, Kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của Tô Văn C đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điểm b khoản1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.........

b) Gây thương tích cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thương tích cho người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; người bị hại cũng có lỗi một phần. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Do vậy có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Tô Văn C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000đ, đại diện ông Dương Văn V đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 xe đạp nữ màu xanh, nhãn hiệu Thống Nhất quá trình kiểm tra xác định thuộc sở hữu của ông Dương Văn D và 01 xe mô tô biển kiểm soát 88F1- 316.20 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn xanh thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị H là vợ bị cáo C. Số tài sản trên có nguồn gốc rõ ràng, hợp pháp. Chị H và ông Dương Văn V có đơn xin xe, Công an huyện V đã trao trả tài sản trên cho chị H, ông V theo quy định. Sau khi nhận lại tài sản, chị H, ông V không yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với mẫu máu thu tại hiện trường; mẫu ký hiệu A1, B1 còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc; 0,00 ml mẫu và toàn bộ bao gói, được niêm phong dán kín phần nắp chai, trên giấy dán niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 260187023735 do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 03/12/2018, mang tên Tô Văn C (được chuyển theo hồ sơ vụ án). Cần trả lại cho C nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tô Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Tô Văn C: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tô Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu máu thu tại hiện trường; mẫu ký hiệu A1, B1 còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc; 0,00 ml mẫu và toàn bộ bao gói, được niêm phong dán kín phần nắp chai, trên giấy dán niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

- Trả lại cho bị cáo Tô Văn C 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 260187023735 do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 03/12/2018, mang tên Tô Văn C (được chuyển theo hồ sơ vụ án), nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Tô Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để đề nghị xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ