vanban.org

Bản án 68/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 14/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2020; Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, ký hiệu M bên ngoài có chữ ký của giám định viên, bị cáo, cán bộ niêm phong, bên trong chưa ma túy loại Methamphetamine. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƯỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:68/2020/HS-ST
Ngày 14 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Tố Hảo và ông Trần Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Thường Tín

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sởTòa án nhân dân huyện Thường Tín xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng N, sinh năm 1982 tại Hà Nội; Trú tại thôn Xâm Thị, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; Quốc tịch Việt N; Dân tộc Kinh; Tôn giáo không; Trình độ văn hóa lớp 01/12; Nghề nghiệp lao động tự do; Con ông Nguyễn Trọng Luyến và bà Hà Thị Sành; Đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị Vân Anh, sinh năm 1993; Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2020 đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn N, sinh năm 2000; Địa chỉ thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/6/2020, Nguyễn Trọng N đi ra khu vực cảng Hồng Vân gặp một người đàn ông không quen biết mua được 01 gói ma túy “đá” với giá 1.400.000 đồng rồi mang về nhà chia thành 7 túi nhỏ mỗi túi có diện 1x1 cm, số còn lại vẫn để trong túi có diện 2x4 cm. N lấy 01 túi trong số 07 túi đã chia ra sử dụng còn lại 06 túi ma túy N cho vào túi nilon rồi cất trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cầm theo người để khi nào có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/6/2020, N nhận được điện thoại của Phạm Văn N hỏi mua 01 túi ma túy “đá” với giá 300.000 đồng. N hẹn N ra khu vực đường thôn Xâm Thị để bán ma túy. N cầm theo vỏ bao thuốc lá chứa 06 túi ma túy đi ra chỗ hẹn N. Khoảng 15 phút sau, N đi đến cầm 300.000 đồng ở tay phải định đưa cho N để mua ma túy, còn N định lấy 01 gói ma túy để đưa cho N thì bị bắt quả tang.

Khám nơi ở của N đã thu được 01 túi nilon diện 2x4 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 10 túi nilon có diện 1x1 cm chưa qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 4915/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật Hình sự

- Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 06 (N túi nilong (ký hiệu M) thu giữ của Nguyễn Trọng N đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 1,290 gam

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Trọng N khi khám xét là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 1,280 gam.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thường Tín giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 – 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

¸p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền và điện thoại đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vì mục đích muốn kiếm lời nên khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 18/6/2020, tại đường làng thôn Xâm Thị, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, Nguyễn Trọng N mang theo 06 túi ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,290 gam, khi đang bán cho Phạm Văn N 01 túi ma túy loại Methamphetamin với giá 300.000 đồng thì bị bắt quả tang. Khi khám xét nơi ở của N đã thu giữ 01 túi ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 1,280 gam, do N tàng trữ để bán và sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, nhất là trong thời gian gần đây tệ nạn ma tuý đã gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe những người khác không phạm tội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Nhân thân bị cáo chưa có tiền sự, tiền án; sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ đã được niêm phong được tịch thu, tiêu hủy.

Số tiền 300.000 đồng đã thu giữ là tiền mua bán ma túy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Hai chiếc điện thoại di động thu giữ trong vụ án đã được dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước.

01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long được tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, ra các quyết định tố tụng hợp pháp theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2020;

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, ký hiệu M bên ngoài có chữ ký của giám định viên, bị cáo, cán bộ niêm phong, bên trong chưa ma túy loại Methamphetamine.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, ký hiệu M1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên, bị cáo, cán bộ niêm phong, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine.

- Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội);

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (hiện trong tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín tại Kho bạc Nhà nước huyện Thường Tín (theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 19/6/2020)).

3. Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ