vanban.org

Bản án 68/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2020/HS-ST
Ngày: 15 - 09 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Hoàng Tuyển.

Ông: Trần Quang Thắng.

- Thư ký phiên toà: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện E.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15/09/2020 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Lý Thị L - sinh năm 1978, tại tỉnh Cao Bằng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn a, xã W, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn Th - đã chết và bà Phùng Thị L - đã chết; có chồng là Nông Văn D - sinh năm 1972, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2020, đến ngày 28/5/2020 chuyển sang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 9 giờ 30 ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại thôn 3, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Đội CSĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an huyện E phối hợp với Phòng PC 04, Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang Lý Thị L, về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ 1 gói ny lon không màu, bên trong có 5 gói ny lon chất dẻo màu nâu. Công an huyện E đã tiến hành niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra Lý Thị L khai nhận: Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 19 tháng 5 năm 2020, Lý từ nhà ở thôn A, xã W, huyện E đi nhờ xe của một người dân đến km 92, thuộc thôn 3, xã R, huyện E, gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân) mua 5.000.000 đồng ma tuý để về bán lại cho người khác kiếm lời, thì người đàn ông đưa cho L 1 gói ny lon không màu, bên trong có 5 gói ny lon chất dẻo, L biết đó là ma túy (Thuốc phiện). Sau khi mua được ma túy, L đang đứng tại đoạn đường thuộc thôn 3, xã R, huyện E, thì bị Công an huyện E phối hợp với Phòng PC 04, Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 434/GĐMT-PC09 ngày 26/5/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 1 gói ny lon không màu, bên trong có 5 gói ny lon chất dẻo màu nâu đen được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,5598 gam, loại Thuốc phiện.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện EaH’leo truy tố đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS, ngày 27/8/2020. Đồng thời đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Thị L từ 26 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, từ ngày 19/5/2020.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 3,6266 gam thuốc phiện còn lại sau giám định.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không

tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 19/5/2020, tại thôn 3, xã R, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, Lý Thị L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để nhằm mục đích mua bán kiếm lời, thì bị Công an huyện E phối hợp với Phòng PC 04, Công an tỉnh Đăk Lăk phát hiện và bắt quả tang với khối lượng thuốc phiện là 7,5598 gam.

Tại khoản 1 Điề u 251 Bộ luật hình sự quy đị nh như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Lời luận tội của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.

Khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i, bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thứ c đượ c hà nh vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm phá p luậ t. Thế nhưng, do ý thứ c coi thườ ng phá p luậ t và vì hám lợi bị cáo đã cố ý thự c hiệ n hà nh vi phạm tội.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiể m cho xã hộ i, ngoài việc vi phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, còn góp phần làm tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, là nguồn gốc phát sinh nhiều tội phạm khác làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm và cách li cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạ m tộ i bị cá o đã thà nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần cân nhắc, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhi ệm hì nh sự để thể hiệ n chính sá ch khoan hồ ng của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy 3,6266 gam Thuốc phiện còn lại sau giám định.

. Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾ T ĐỊ NH:

1. Tuyên bố : Bị cáo Lý Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Thị L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 19/5/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 3,6266 gam Thuốc phiện còn lại sau giám định.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ