- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Đăng A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng A phạm tội “T n trữ trái phép ch t ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2020/HS-ST Ngày: 26-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Cao Đình Nhân
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Lương Hùng Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 75/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng A, sinh năm 1983; nơi sinh: Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số 219/1, đường Nguyễn Trãi, tổ 7, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dA tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đăng H, con bà: Nguyễn Thị Thục L; gia đình có 02 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 1985; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 43/2015/HSST ngày 16/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 03 tháng 10 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 14/01/2020 đến nay. Có mặt
* Người làm chứng:
- Bà Phan Hồng Ph, sinh năm 1991; Trú tại: 09/4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Hoàng Duy Ph, sinh năm 1992; Trú tại: 14/2 Bạch Đằng, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 14/01/2020, bị cáo Nguyễn Đăng A đang ngồi nói chuyện với bạn gái tên Phan Hồng Ph tại phòng ngủ của bị cáo tại số nhà 219/01 Nguyễn Trãi, thị trấn L N, huyện Đ thì lực lượng Công an huyện Đ tới kiểm tra hành chính, qua kiểm tra phát hiện thu giữ trên nệm trước mặt chỗ Nguyễn Đăng A đang ngồi có 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. Quá trình kiểm tra Công an huyện Đ còn phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của bị cáo A có 01 túi vải màu đen đựng 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời niêm phong toàn bộ số chất nghi là ma túy thu giữ của bị cáo A và đưa đi giám định.
Quá trình điều tra bị cáo A khai nhận số ma túy trên bị cáo mua của một người phụ nữ tên My, khoảng 27 tuổi, dáng người thấp, gầy, nhà ở Đà Lạt vào ngày 12/01/2020 tại trước nhà của bị cáo ở đường Nguyễn Trãi, thị trấn L N, huyện Đ với giá 5.000.000đ để sử dụng cho bản thân.
Theo kết luận giám định số: 84/GĐ–PC09 ngày 20/01/2020, của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: M u tinh thể đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 6,9560g, loại Methamphetamine. (Methamphetamine l ch t ma tú n m tron danh m c II, STT: 323, N h nh 3 201 NĐ – CP n 1 201 của ch nh phủ).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 phong bì niêm phong ma túy còn lại sau khi giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng chuyển chi cục thi hành án dân sự xử lý theo thẩm quyền.
Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng A về tội “T n trữ trái phép ch t ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xét xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng A từ 05 đến 06 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đăng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau: Do nghiện ma túy nên vào ngày 12/01/2020 bị cáo Nguyễn Đăng A có mua của một người phụ nữ tên My 02 gói ma túy với giá 5.000.000đ về để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/01/2020 khi bị cáo đang ở trong phòng cùng bạn là Phan Hồng Ph thì bị Công an huyện Đ kiểm tra hành chính và phát hiện 01 gói ma túy bị cáo đang để trên nệm trước mặt chỗ bị cáo đang ngồi và 01 gói ma túy bị cáo đang để trong túi quần bên trái phía trước của bị cáo.
Tại kết luận giám định số: 84/GĐ–PC09 ngày 20/01/2020, của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: M u tinh thể đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 6,9560g, loại Methamphetamine.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng vụ án và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đăng A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng v n cố tình thực hiện, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, ổn định tại địa phương mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy.
Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: Bản án số 43/2015/HSST ngày 16/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 03 tháng 10 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội nên hành vi phạm tội mới của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tang vật của vụ án: Đối với số ma túy của bị cáo còn lại sau khi gửi đi giám định đựng trong phong bì niêm phong số 84/GĐ-PC09 “M u hoàn: M = 5,9742g” và 01 phong bì niêm phong số 84/GĐ-PC09 “Bao gói” có đóng dấu đỏ của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay xác định bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công qu nhà nước là có căn cứ.
Trong vụ án có đối tượng tên My đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên đề nghị Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với bà Phan Hồng Phương là bạn gái của bị cáo A và có mặt tại nhà của bị cáo A vào thời điểm bị cáo A bị bắt phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, bà Phan Hồng Phương không biết bị cáo A tàng trữ ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với bà Phan Hồng Ph.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng A phạm tội “T n trữ trái phép ch t ma túy”.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng A 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/01/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong số 84/GĐ-PC09 “M u hoàn: M = 5,9742g và 01 phong bì niêm phong số 84/GĐ-PC09 “Bao gói” có đóng dấu đỏ của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu hiệu OPPO màu đen màn hình cảm ứng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đăng A phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Văn Hùng |