- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Nhựt L, Trần Tấn P, Đoàn Chung H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2020/HS-PT Ngày: 22-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.
Các Thẩm phán:
1. Ông Trương Văn Lộc;
2. Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2020 đối với các bị cáo Phạm Nhựt L, Đoàn Chung H và Trần Tấn P. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Họ và tên các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Nhựt L, sinh năm 1985 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: p V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; trình độ học vấn: 12 12; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (đã chết) và bà Trần Thị Ph, sinh năm 1952; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1990; bị cáo có 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 09/7/2019 đến ngày 18 7 2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
2. Đoàn Chung H, sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: p P, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T, sinh năm 1948 và bà Tạ Thị R, sinh năm 1948; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14 4 2019, bị Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”; bị cáo bị bắt ngày 09 7 2019 đến ngày 28/8 2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
3. Trần Tấn P, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước; trình độ học vấn: 12 12; nghề nghiệp: Nhân viên; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Trần Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 04 02 2010, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26 2010 HSST ngày 04 02 2010 (Đã chấp hành xong bản án nên đương nhiên được xóa án tích); bị cáo bị bắt ngày 09 7 2019 đến ngày 18 7 2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Các bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn 02 bị cáo và 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Nhựt L, Đoàn Chung H, Trần Tấn P, Lê Minh C, Nguyễn Thanh T có quan hệ là bạn quen biết nhau.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09 7 2019, Phạm Nhựt L, Nguyễn Thanh T và Lê Minh C đến quán cà phê P, địa chỉ tại tổ 13, khu 7, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để uống nước. Tại đây, L nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền bằng ứng dụng trên điện thoại di động nên L rủ T và C cùng tham gia đánh bạc thì T và C đồng ý. C đưa cho L 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu xanh dương đã được cài đặt sẵn ứng dụng tên “Bầu cua 2020” để L sử dụng làm công cụ chơi đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày 09 7 2019, Đoàn Chung H và Trần Tấn P đến quán cà phê P uống nước thì thấy L, T, C đang đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền nên H và P vào cùng tham gia đánh bạc với L, T, C. L là người làm cái để T, C, H và P đặt tiền thắng thua trực tiếp với L. Hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Con bạc làm cái sử dụng điện thoại di động có tải sẵn ứng dụng “Bầu cua 2020”, trên ứng dụng có 06 (sáu) hình ảnh gồm: Nai, bầu, gà, cá, cua và tôm, người chơi sẽ đặt tiền trên bàn tương ứng với vị trí 06 (sáu) hình ảnh nai, bầu, gà, cá, cua, tôm rồi người làm cái sẽ bấm vào chữ “Mở” trên ứng dụng, nếu hình ảnh trên ứng dụng mở ra trùng với hình ảnh mà con bạc đã đặt tiền thì con bạc thắng với tỉ lệ 1 thắng 1, nếu ngược lại thì con bạc thua toàn bộ số tiền đã đặt, mỗi ván các con bạc đặt tiền từ 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng đến 40.000 (Bốn mươi nghìn) đồng.
Phạm Nhựt L sử dụng số tiền 6.210.000 (Sáu triệu hai trăm mười nghìn) đồng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, L đã thua 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Trần Tấn P sử dụng số tiền 2.150.000 (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, P đã thua 120.000 (Một trăm hai mươi nghìn) đồng.
Đoàn Chung H sử dụng số tiền 1.800.000 (Một triệu tám trăm nghìn) đồng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, H đã thắng 100.000 (Một trăm nghìn) đồng
Lê Minh C sử dụng số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, C đã thắng 120.000 (Một trăm hai mươi nghìn) đồng.
Nguyễn Thanh T sử dụng số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng để đánh bạc.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 09 7 2019, khi Lê Minh C, Đoàn Chung H, Phạm Nhựt L, Trần Tấn P và Nguyễn Thanh T đang đánh bạc thì bị Công an phường Ph, thành phố Thủ Dầu Một P hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, H, L, P và T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Phạm Nhựt L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09 7 2019 đến ngày 18 7 2019.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Đoàn Chung H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09 7 2019 đến ngày 18 7 2019.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Trần Tấn P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09 7 2019 đến ngày 18 7 2019.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Lê Minh C 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, bị cáo Nguyễn Thanh T 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng cùng về tội “Đánh bạc”; tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/02/2020, các bị cáo Phạm Nhựt L, Trần Tấn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; bị cáo Đoàn Chung H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt theo hướng chuyển từ hình phạt tù sang cải tạo không giam giữ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm P biểu ý kiến: Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau thắng, thua bằng tiền như nội dung bản án sơ thẩm đã nhận định, căn cứ vào tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa sơ, phúc thẩm, đủ căn cứ xác định bản án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội đánh bạc là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Trong đó, bị cáo Phạm Nhựt L là người rủ rê, trực tiếp làm cái, bị cáo Đoàn Chung H, Trần Tấn P có nhân thân xấu nên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, các bị cáo L, H không đủ điều kiện để hưởng án treo. Cần có hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong vụ án, có căn cứ xác định các bị cáo sử dụng số tiền vào việc đánh bạc là 11.660.000 (Mười một triệu sáu trăm sáu mươi nghìn) đồng như cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện Kiểm sát cấp sơ thẩm là có căn cứ.
Đối với số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn) đồng thu giữ của Phạm Nhựt L, 1.350.000 (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng thu giữ của Đoàn Chung H, 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng của Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo xác định số tiền này là tiền cá nhân, không dùng vào việc đánh bạc, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền này dùng vào việc đánh bạc là không phù hợp. Mặc dù các bị cáo không kháng cáo, Viện Kiểm sát cấp sơ thẩm không kháng nghị nhưng quyết định sơ thẩm áp dụng không đúng pháp luật ảnh hưởng đến việc đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và ảnh hưởng quyền lợi của các bị cáo nên cần xem xét lại tính chất của vụ án và cần trả lại số tiền trên cho các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội tự cải tạo và lo cho cuộc sống của gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Vào 16 giờ 30 phút ngày 09 7 2019, tại quán cà phê P, địa chỉ tổ 13, khu 7, phường Ph, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Phạm Nhựt L, Đoàn Chung H, Trần Tấn P, Lê Minh C, Nguyễn Thanh T đã thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức lắc bầu cua bằng ứng dụng “Bầu cua 2020” trên điện thoại di động với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 11.660.000 (Mười một triệu sáu trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Đối với số tiền thu giữ của Phạm Nhựt L, Đoàn Chung H, Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra, các bị cáo đều xác định là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xác định số tiền của L, H, T đang giữ trong người không dùng vào việc phạm tội và đề nghị tuyên trả cho L, H và T là phù hợp. Trong hồ sơ không có chứng cứ, tài liệu nào chứng minh các bị cáo dùng số tiền bị thu giữ trong người của họ dùng vào việc đánh bạc, bản thân các bị cáo không thừa nhận dùng tiền trên vào việc đánh bạc, nhưng Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị Quyết 01 2010 NQ – HĐTP ngày 22 10 2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác định số tiền trên các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là không có căn cứ và không đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Nhựt L, Trần Tấn P kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt từ phạt tù sang hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Tuy nhiên, bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, bị cáo P tuy nhân thân đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích nhiều năm. Xét thấy, số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn, thời gian tham gia sát phạt ngắn. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là nặng, không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Kháng cáo của các bị cáo là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo L và P, việc không áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo L, P cũng đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo.
Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn Chung H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt chuyển từ hình phạt tù sang cải tạo không giam giữ. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Tuy nhiên, số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn, thời gian tham gia sát phạt ngắn. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là nặng, không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó kháng cáo của bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Viện Kiểm sát cấp phúc thẩm kết luận số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc thấp hơn Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định là phù hợp nhưng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt là không phù hợp.
Đối với việc xử lý vật chứng là số tiền thu giữ trong người của các bị cáo Phạm Nhựt L, Đoàn Chung H và Nguyễn Thanh T, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị trả lại cho các bị cáo là phù hợp. Mặc dù số tiền nêu trên không có kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát tỉnh Bình Dương có đề nghị và để đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo nên cần xem xét để trả lại số tiền trên cho các bị cáo.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm (trừ phần xem xét tại cấp phúc thẩm) không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, d, đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Nhựt L, Trần Tấn P, Đoàn Chung H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Nhựt L, Trần Tấn P, Đoàn Chung H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Nhựt L 45.000.000 (Bốn mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Đoàn Chung H 45.000.000 (Bốn mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Trần Tấn P 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Phạm Nhựt L số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn) đồng, bị cáo Đoàn Chung H 1.350.000 (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng, bị cáo Nguyễn Thanh T 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng.
Theo giấy nộp tiền vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ngày 14/01/2020.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải nộp.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. .
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thành phố Thủ Dầu Một; 2 - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; 1 - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; 1 - CQCSĐT CA thành phố Thủ Dầu Một; 3 - Bị cáo; 3 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Tổ hành chính Tư pháp; 2 - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Huy Toàn |