vanban.org

Bản án 68/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 12/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn D 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-12-2018. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 1063/GĐKTHS (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-02-2019 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2019/HSST
Ngày: 12-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Thành.

Ông Nguyễn Xuân Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐ-HSST ngày 27-02-2019 đối với bị cáo:

Đoàn Văn D, sinh năm 1976 tại tỉnh Quảng Ninh; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ 4 khu 11, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn M (Đã chết) và bà Lê Thị Q; có vợ Vũ Thị Y (Đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 10-6-2015 đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Quảng Ninh thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 10-6-2017); nhân thân: Ngày 04-4-2003 Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 22-3-2011 đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Quảng Ninh thời hạn 24 tháng; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04-12-2018 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Triệu Thế T, anh Vũ Đức Đ (Anh T và anh Đ vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 04-12-2018, Tổ công tác Công an phường B, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đường Trần Quốc T, phường N, thành phố N phát hiện Đoàn Văn D đang ngồi trên xe máy biển kiểm soát V3-21535 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra thu giữ trên tay trái của D 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (D khai là gói Heroine). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa D về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của D 01 chiếc xe máy biển kiểm soát V3-21535.

Bản kết luận giám định số 1063/GĐKTHS ngày 11-12-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Đoàn Văn D được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy Heroine, khối lượng mẫu 0,126 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Văn D đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng như sau: Khoảng 9 giờ ngày 04-12-2018, D điều khiển xe máy biển kiểm soát V3-21535 một mình từ xã Hồng Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đến khu vực bến đò xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định gặp một nam thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) D hỏi mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, nam thanh niên nhận của D 100.000 đồng rồi lên xe cùng D đi đến thành phố N. Tới nơi D dừng xe (Không rõ tên đường) để nam thanh niên xuống xe đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho D 01 gói ma túy như đã thỏa thuận, D cầm gói ma túy trên tay phải cùng nam thanh niên đi mua dụng cụ sử dụng. Khi cả hai đi đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, đường Trần Quốc Toản, phường Ngô Quyền, thành phố N nam thanh niên xuống xe đi mua dụng cụ sử dụng còn D ngồi trên xe chờ thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 21-02-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Đoàn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đoàn Văn D xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đoàn Văn D theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam.

- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Văn D có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 10 giờ 45 phút ngày 04-12-2018, tại khu vực trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, đường T, phường N, thành phố N bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,126 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 1063/GĐKTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tượng đã bán gói ma túy cho Đoàn Văn D và chiếc xe máy biển kiểm soát V3-21535 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N chưa đủ căn cứ kết luận nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

2. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn D 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-12-2018.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 1063/GĐKTHS (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-02-2019 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Đoàn Văn D phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ