- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Quang Linh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HS-ST Ngày 28/06/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú – Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị L Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 06 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2019/HS-ST ngày 09/05/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXXST-HS ngày 14/06/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang L, sinh năm 1992, địa chỉ: số nhà 13, ngõ 65, đường Nguyễn Viết X, phố Thanh S, phường B, thành phố N, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quang T và con bà: Bùi Thị V; Vợ: Nguyễn Vân A, con: có 01 con, sinh năm: 2017; Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2019 đến ngày 01/03/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị V, sinh năm: 1971. Địa chỉ: số nhà 13, ngõ 65, đường Nguyễn Viết X, phố Thanh S, phường B, thành phố N, tỉnh N. Có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1957. Vắng mặt.
- Ông Vũ Đức C , sinh năm 1952. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quang L là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 13 giờ ngày 26/02/2019, L điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 35B1 - 551.56 đi từ nhà đến xã Y, huyện Ý , tỉnh N tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi qua khu vực Cầu sắt khoảng 1 Km, L rẽ vào ngôi nhà nằm trên mặt đường Quốc lộ 10 thuộc xã Y, huyện Ý , tỉnh N, L mua của người đàn ông 300.000 đồng 01 gói ma túy đựng trong 01 túi nilon màu trắng có chứa chất tinh thể màu trắng. Xác định là ma túy đá, L bỏ vào túi quần bên trái phía trước sau đó điều khiển xe mô tô về thành phố N để tìm nơi sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đi đến đến khu vực đường H, phố T, phường T, thành phố N thì gặp Tổ công tác Công an phường T, thành phố N đang làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính. Biết không che dấu được hành vi của mình Nguyễn Quang L đã tự giác lấy trong túi quần bên trái phía trước ra 01 túi nilon màu trắng trong chứa chất tinh thể màu trắng vừa mua được giao cho Tổ công tác và khai nhận đây là ma túy đá mua để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói ma túy theo quy định sau đó đưa Nguyễn Quang L cùng vật chứng về trụ sở công an phường T, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng ngay khi thu giữ của Nguyễn Quang L có trọng lượng 0,33 gam, ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy và khối lượng ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 109/KLGĐ - PC09 - MT ngày 28/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3239 (không phẩy ba nghìn hai trăm ba mươi chín) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn loại đối tượng giám định gồm: Chất tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2325 gam, là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì theo quy định, trên mặt phong bì có ghi số 109/KLGĐ-MT”.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 08/05/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 35B1 – 551.56 đã thu giữ của L quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của bà Bùi Thị V, sinh năm 1971, trú tại phố T, phường B là mẹ đẻ của L. Ngày 26/02/2019, L sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy bà Vân không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Bùi Thị V.
Đối với 0,2325 gam Methamphetamine cơ quan giám định hoàn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Quang L được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố N để giải quyết cùng vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2019.
Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ gói ban đầu;
Bị cáo bị kết án phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang L không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N; đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Quang L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trong người 0,3239 gam Methamphetamine là chất ma túy của bị cáo Nguyễn Quang L với mục đích để sử dụng cho bản thân vào ngày 26/02/2019 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước việc quản lý đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nhưng không nhận thức được tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bản thân dẫn đến việc phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly ra ngoài đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Khi bị yêu cầu kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua cho Công an. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Quang L tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Nguyễn Quang L khai mua của người nam thanh niên không quen biết và không nhớ rõ vị trí khu vực mua ma túy tại thôn D, xã Y, huyện Ý , tỉnh N nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.
- Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, sau khi trích một phần gửi đi giám định số mẫu vật còn lại là 0,2325 gam Methamphetamine cùng giấy gói ban đầu, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 35B1 - 551.56 đã thu giữ của bị cáo L quá trình điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký mang tên Nguyễn Quang L nhưng nguồn gốc tiền mua xe là của bà Bùi Thị V là mẹ đẻ của L. Thời điểm mua xe bà V chưa có giấy phép lái xe nên để bị cáo L đứng tên đăng ký xe. Đây là phương tiện sinh hoạt của gia đình bà. Ngày 26/02/2019, bị cáo L sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy bà V không biết, bà V đã có đơn đề nghị xin nhận lại xe mô tô cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố N đã trả lại chiếc xe mô tô cho bà Bùi Thị V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2019.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ gói ban đầu. (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 05 năm 2019 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quang L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Quĩ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TANDTỉnh Ninh Bình; - VKSNDTP Ninh Bình; - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình; - Công an thành phố Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - THA hình sự - Bị cáo; - Lưu HS vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Kim Phượng – Lê Văn Tú | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Việt Thanh THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Việt Thanh |