vanban.org

Bản án 68/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 15/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A mức án 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04.4.2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc A mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2019/HS-ST
Ngày: 15/8/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Anh Tuấn.

2. Ông Phạm Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: ông Thanh Lê Anh Tuấn, Thư ký tòa án huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2019/HSST, ngày 11/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc A(tên gọi khác: A Bò), sinh năm 1999, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Q14, thị trấn Q, huyện W, Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn B và bà Trần Thị Mỹ C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án,tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ngày 04.4.2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Tuy Phong. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Lê Thị Mỹ F, sinh năm 2001

Nơi cư trú: Xóm 6, thôn P1, xã P, huyện W, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

2. Bà Trần Thị Mỹ C, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: Q14, thị trấn Q, huyện W, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút trước ngày 28.3.2019, khoảng một tuần (tức ngày 21.3.2019), Nguyễn Quốc A liên lạc qua điện thoại với một người thanh niên tên T không rõ nhân thân lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá với giá 2.000.000 đồng, T đồng ý. Sau đó, T bỏ gói ma túy đá bán cho A vào một hộp quà và đem ra bến xe Miền Đông- thành phố Hồ Chí Minh gửi cho xe khách Đông Hưng đưa về thị trấn Q. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22.3.2019, Nguyễn Quốc A ra bến xe khách Đông Hưng ở thị trấn Q, A đưa cho người phụ xe 2.000.000 đồng và nhận hàng, tiền phí vận chuyển gói hàng do người thanh niên tên T trả cho xe. Sau khi nhận ma túy đá A đem về phòng trọ ở Q5, thị trấn Q, huyện W phân ra các gói nylon nhỏ để sử dụng và đã bán cho Lê Thị Mỹ F 03 lần, cụ thể:

Lần 1: Vào khoảng 15 giờ ngày 28.3.2019, Lê Thị Mỹ F nhắn tin qua ứng dụng Mesenger với tên tài khoản Facebook “Thy Trieu” đến tài khoản “Op Gióó” của Nguyễn Quốc A hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, A đồng ý và hẹn F đến khu vực trước quán cà phê Tiếng Thu Xưa thuộc Q5, thị trấn Q, W để giao ma túy. Khoảng 20 phút sau, F đến địa điểm đã hẹn với A, A đưa cho F 01 chai nước khoáng Vĩnh Hảo ở giữa thành chai và nhãn chai có nhét 01 gói ma túy đá, F đưa cho A 300.000 đồng.

Lần 2: Vào khoảng 16 giờ ngày 01.4.2019, Lê Thị Mỹ F nhắn tin qua ứng dụng Mesenger với tên tài khoản Facebook “Thy Trieu” đến tài khoản “Op Gióó” của Nguyễn Quốc A hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, A đồng ý và hẹn F đến khu vực trước quán karaoke KingDom thuộc Q5, thị trấn Q, W để giao ma túy. Khoảng 20 phút sau, F đến địa điểm đã hẹn với A, A đưa cho F 01 chai nước khoáng Vĩnh Hảo ở giữa thành chai và nhãn chai có nhét 01 gói ma túy đá, F đưa cho A 300.000 đồng.

Lần 3: Vào khoảng 18 giờ ngày 04.4.2019, Lê Thị Mỹ F nhắn tin qua ứng dụng Mesenger với tên tài khoản Facebook “Thy Trieu” đến tài khoản “Op Gióó” của Nguyễn Quốc A hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 600.000 đồng, A đồng ý và hẹn F đến khu vực trước quán cà phê Tiếng Thu Xưa thuộc Q5, thị trấn Q, huyện W để giao ma túy. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 86B1- 438.15 đem theo ma túy đá đến điểm hẹn bán cho Lê Thị Mỹ F nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an huyện Tuy Phong và Công an thị trấn Liên Hương phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên người Nguyễn Quốc A 01 chai nước trà Ô long ở giữa thành chai và nhãn chai có nhét 01 gói nylon màu trắng có kích thước 02cm x 04cm được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng (A khai nhận là ma túy đá A đưa đi bán cho F); 01 ví da bên trong có chứa 01 gói nylon màu trắng có kích thước 0,5cm x 08cm được hàn kín, bên trong gói nylon này gồm có thêm 03 gói nylon màu trắng (mỗi gói có kích thước 1,5cm x 03cm được hàn kín) và 03 gói nylon màu trắng (mỗi gói có kích thước 01cm x 03cm được hàn kín) có chứa tinh thể màu trắng; thu giữ của A số tiền 700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S (A dùng để liên lạc với F trao đổi việc mua bán ma túy) và 01 xe mô tô loại Yamaha Jupiter biển số 86B1-438.38.

Tại bản Kết luận giám định số 327/KLGĐ-PC09 ngày 10.4.2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận:

Mẫu M1 gửi đến giám định có khối lượng 0,4144 gam là Methamphetamine.

Mẫu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,9664 gam là Methamphetamine.

Ngoài ra, A khai nhận đã 02 lần bán ma túy đá cho người tên T1 ở xã M và L ở thị trấn Q, tuy nhiên do không xác định rõ được lai lịch của T1 và L và đây chỉ là lời khai duy nhất của A, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ để xác định nên không có căn cứ để xử lý 02 lần mua bán ma túy này của A.

Lời khai nhận của Nguyễn Quốc A phù hợp với lời khai của Lê Thị Mỹ F về thời gian, địa điểm cách thức thực hiện, phù hợp với các biên bản phạm tội quả tang, thu giữ các tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy, đủ chứng cứ xác định Nguyễn Quốc A bán 03 lần, 03 gói ma túy đá cho Lê Thị Mỹ F thì bị phát hiện bắt quả tang.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 50/CT-VKSTP-HS ngày 11/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc A đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 50/CT-VKSTP-HS ngày 11/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận đây là vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra nhiều lần từ ngày 28.3.2019 đến ngày 04.4.2019 tại Q5, thị trấn Q, huyện W. Do Nguyễn Quốc A đã 03 lần bán 03 gói Methamphetamine cho Lê Thị Mỹ F thu lợi 600.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vì vậy, Cáo trạng số Cáo trạng số 50/CT-VKSTP-HS ngày 11/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Nguyễn Quốc A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm điểm b khoản 2 Điều 251 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì bản tính tham lam muốn có tiền tiêu xài và ý thức xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, đe dọa đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội.

Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với Lê Thị Mỹ F đã mua ma túy của Nguyễn Quốc A để sử dụng, Công an thị trấn Liên Hương đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.

Riêng người đàn ông tên T ở thành phố Hồ Chí Minh đã bán Methamphetamine cho Nguyễn Quốc A, do không rõ nhân thân lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tang vật chứng:

Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Quốc A là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, buộc bị cáo phải nộp lại vào ngân sách nhà nước 600.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 327/1 và trong phong bì số 327/2 là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chai nhựa nhãn hiệu Trà Ô long, 01 ví da màu đen là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu vàng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu nâu vàng biển số 86B1-438.15 thu giữ của Nguyễn Quốc A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã trả lại cho chử sở hữu là Trần Thị Mỹ C (mẹ của Nguyễn Quốc A), do C không biết A sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A mức án 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04.4.2019.

[2] Biện pháp tư pháp:

Áp dụng: điểm a,b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b, c khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 327/1, 327/2, 01 chai nhựa nhãn hiệu Trà Ô long, 01 ví da màu đen.

Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu vàng.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong và Cơ quan điều tra- Công an huyện Tuy Phong).

Trả lại cho bị cáo 700.000đ đã thu giữ theo biên lại số 0002301 ngày 09/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong nhưng buộc bị cáo phải nộp lại 600.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên hoàn trả cho bị cáo 100.000đ.

[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2019).

Cỡ chữ